Thơ của người giang hồ Nguyễn Đông Giang

Bài tản mạn hôm nay, mang tên tập thơ đầu tay của Nguyễn Đông Giang: Thơ Của Người Giang Hồ.

Theo tác giả, tên gọi được ra đời bởi sự góp ý của những người bạn anh, gồm những Lê Ngọc Châu, Mai Xuân Châu, Nguyễn Văn Xuân, Đặng Văn Ngoạn, Nguyễn Văn Nôi, Hoàng Trọng Bân, Châu Văn Tùng, Nguyễn Văn Pháp, Lam Hồ, Hoàng Anh, Phạm Ngọc Niên, Đặng Văn Hải… Đám trung niên này, trong một lần họp mặt tán gẫu tại cà phê Từ Thức Đà Nẵng, đã cao hứng đặt tên cho đứa con tinh thần của Nguyễn Đông Giang. Tập thơ anh định in tại nhà in Da Vàng của Hoàng Công Khanh. Tên tập thơ không phản ánh nội dung của thi phẩm. Cũng không có bài thơ nào trong tập cùng tên. Mô tả chính xác phong cách của người làm thơ, họ Nguyễn ở Đông Giang là ý nghĩa chính của tên gọi. Qua đây, chúng ta có thể hình dung được, tác giả từng là một người phóng khoáng, thích ngao du, ưa thích đi đây đi đó, ngoạn cảnh, săn tình.

Người Giang Hồ của đám chiến sĩ sớm ngã ngựa, có tên thật Nguyễn Văn Ngọc. Anh được ra đời vào ngày 06 háng 02 năm 1943 tại làng An Hải, Đông Giang, quận 3 thành phố Đà Nẵng. Anh theo học tiểu học tại trường Hoàng Diệu rồi vào Võ bị Quốc Gia Đà Lạt khóa 19. Năm ngón tay của một bàn tay phải, là món quà lưu niệm, anh dành cho cuộc chiến tranh Việt Nam. Nguyễn Đông Giang thành thầy giáo tại các trung học Quốc Gia Nghĩa Tử, Đông Giang, Bồ Đề, Khiết Tâm,Vinh Sơn, Duy nhân (Đà Nẵng), Trần Quý Cáp (Hội An).. Anh cũng từng là ứng cử viên dân biểu hạ viện, tự nguyện bỏ cuộc. Sau 1975, không thủ phận, nên anh có mặt trong tổ chức phục quốc. Được ghép vào thành phần “âm mưu lật đổ chế độ”, Nguyễn Đông Giang có cơ hội ăn cơm tù Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sáu năm. Ra tù bị quản chế tại gia, cấm vượt khỏi Đà Nẵng. Anh nhanh chóng trở thành một ông xe thồ lành nghề.

Ngoài cái thân trần, không có mảnh giấy nào lận lưng, kể cả bằng tốt nghiệp “cải tạo” tốt, Nguyễn Đông Giang đến Hồng Kông một mình năm 1991. Không có bất cứ thứ gì để chứng minh thân thế, sự nghiệp, anh bị giữ tại trại một thời gian năm năm. Có tay nghề tranh đấu, nên anh tiếp tục hành nghề trước những bất công trong trại tạm trú. Song song với công việc giúp mình, giúp người, anh làm thơ. “Cuối cùng, một số thơ, một số bài viết của ông, đã là đầu mối cho International Pen in London và Liên Hiệp Quốc can thiệp, vớt ông đến Hoa Kỳ –  LH” vào năm 1996, theo diện nhà báo tị nạn chính trị. Hai năm sau, anh bảo lãnh vợ con sang đoàn tụ tại San Jose USA.

Trước 1975, Nguyễn Đông Giang chỉ có một số ít thơ được đăng báo, một vài bài thơ lẻ loi được đăng ở các tạp chí : Văn Học, Tiền Tuyến, Quyết Thắng … Bạn đọc đã bất ngờ có tập đầu tay (Thơ Của Người Giang Hồ) của anh vào năm 1969.  Tại Hoa Kỳ, anh viết đều tay hơn. Hiện tại, anh thường có thơ đăng trên các tạp chí văn học hải ngoại như: Hợp Lưu,Tân Văn, Sài Gòn Times, Hồn Việt, Nguồn, Văn Hoá Việt Nam, Đa Hiệu, Việt Nam t/b, Tuần báo Trẻ, SàiGòn Times (Úc), SSTuần Báo (Úc)…

Nguyễn Đông Giang chiếm những giải Nhất Về Thơ cuả Giải Sáng tác Đa Hiệu 89,90 năm 2010 do Trường Võ Bị Quốc Gia việt Nam Haỉ Ngoại tổ chức.  Báo chí giới thiệu thơ anh khá nhiều, mang lại kết quả: Vô Lượng Tình Sầu, tập thơ thứ hai ra đời năm 2005 .

Vô Lượng Tình Sầu gồm 74 bài thơ, được chia thành 3 phần:

1- Thơ viết ở quê nhà (14 bài)

2- Thơ viết trên đường lưu lạc (22 bài)

3- Thơ viết trên đất tạm dung (38 bài)

Sách dày 140 trang. Bìa và trình bày do họa sĩ Hồ Thành Đức thực hiện. Phụ bản của nữ họa sĩ Bé Ký. Sách có bài tựa của Luân Hoán và hai bài bạt của Thái Tú Hạp và Hoàng Lộc. Ở bìa sau, trích đăng ý kiến của Nguyễn Thu Giao, Vũ Hữu Định…

Có hai hình ảnh, thường sống cùng với tâm tình của Nguyễn Đông Giang, qua thơ: địa danh và rượu. Trong bài tưởng nhớ nhà thơ Vũ Hữu Định, mở đầu tập Vô Lượng Tình Sầu, gồm hai đoạn:

chiều thu đẹp, dạo chơi quanh An Hải
nắng thu vàng, làm nhớ áo ai phơi
hồn quá mỏng, nên tay ôm không nổi
bao lần theo, bao lần lạc dấu người

cơn mưa nhẹ, ướt ngang đời trôi nổi
tôi hay người, đang được để tang ?
xin đến quán, uống dăm ba ly rượu
An Hải chiều, An Hải nhớ mang mang
(Lần dạo chơi An Hải)

Trong tám câu của thể loại tám chữ, mỗi dòng đầu được ngắt câu ở chữ thứ ba. Đây là một đặc biệt trong cách kiến thiết câu thơ. Bài thơ triệt để dùng hình ảnh để nói lên cái bâng khuâng kỷ niệm. Những hình ảnh chọn lựa thích hợp và rất đẹp trong năm câu đầu. Có nắng thu để nhớ người phơi áo. Có tha thiết tỏ tình (ôm), nhưng ngại ngùng cam phận. Nhưng vẫn rất phong độ. Trong cuộc đời giang hồ, chợt gặp một bóng hồng như cơn mưa tạt qua, dù khoảnh khắc, cũng rất tuyệt vời.

An Hải là một làng nhỏ, nằm sát bờ đông sông Hàn, một dòng sông có tầm vóc, đã trao thơ vào tay nhiều thi sĩ. Nhà của Nguyễn Đông Giang không xa bờ sông bao nhiêu. Nhưng muốn đến thăm nhà thơ phải qua nhiều ngã cát. Một giàn bí lớn đầy hoa vàng, nhiều lần nhà thơ phải thay lũ ong truyền nhụy. Một hàng hiên đón cả gió biển lẫn gió núi, thay nhau khúc khích quanh năm. Nguyễn Đông Giang yêu ngôi nhà, hàng hiên và cả dòng sông “lòng đựng mây bềnh bồng / ghe phà đi lặng lẽ / nắng hát lời vô ngôn – Lê Hân” nên đi đâu, ở đâu anh cũng nhớ về. Quê nhà trở thành một mạch máu trong thơ Nguyễn Đông Giang. Ngoại cảnh, nhân dạng lẫn tình cảm của tác giả, chúng ta có thể bắt gặp cùng một lúc.

“Chiều cuối năm ta lên đò qua sông /Gió thổi hiu hiu nắng úa bên lòng /An Hải ơi! Xin mừng ta trở lại / Thuở ấu thời, con ngựa già long đong 
Ôi đời ta, đời buồn như mùa đông / Râu tóc hắt hiu cái rụng cái còn / Già nửa đời người dạn dày lận đận / Chợt nghe hồn vừa nở những nhánh bông 
Có ai đợi ta trên con đò cuối năm / Ôi, chỉ bóng ta chao bóng nước xuôi dòng / Mặt mũi tiêu điều theo phần đời gió nổi / Cái đời buồn như nước chảy trăm năm 
Thêm một mùa xuân ta già thêm một tuổi / Tim phổi héo hon theo ngày tháng vô tình / Cũng gắng quay về nằm trên đất Mẹ / Chúa đã buồn nhưng ta lại buồn hơn 
Đã mấy mươi năm ta hát khúc tiêu dao / Đời còn ai là bậc anh hào / Chẳng lẽ khóc để cho đời mai mỉa /Chẳng lẽ cười khi thế sự lao đao 
Ta cứ dửng dưng như không có gì / Giả bộ yêu đời như mọi khi / Dan díu đời ta những thơ cùng rượu /Còn nắng còn mưa nên chẳng thiết gì 
Nghĩ quẩn nghĩ quanh thêm buồn đời thi sĩ / Hương khói nhà ai chạnh nhớ quê nhà / Thôi chào em, chào con đò năm cũ /Trôi vào Xuân – ta, lòng rụng xót xa”

Với bài Ngày Về Qua Đò Cuối Năm trích dẫn trên, ngoại cảnh trở thành thứ yếu. Tác giả chỉ đưa ra vài hình ảnh: con đò, hiu hắt nắng úa và bóng nước xuôi dòng, vừa đủ để người đọc thấy cái vị trí xuất phát của những câu thơ. Nhân dạng tuy cũng vài nét: con ngựa già long đong, râu tóc hắt hiu cái rụng cái còn, mặt mũi tiêu điều, nhưng đã hiện rõ chân tướng một kẻ phiêu bồng. Tâm sự là chủ yếu của bài thơ. Đặc biệt thái độ dửng dưng như không có gì, giả bộ yêu đời…đã vẽ lên thật rõ bản tính của một nghệ sĩ. Nguyễn Đông Giang rất xuất sắc khi viết về quê hương :

“ tôi ra đời tại Hà Thân đất cát
nắng quên vàng mây ngại nở cơn mưa

nghìn năm sau mạch đời ôm nhựa sống
nước sông Hàn buồn gợn bóng hoàng hôn…”
(Khi trở lại Hà Thân)

em gái nhà quê lòng xanh lá chuối
đứng mơ anh từ luống cải vườn cà
chiều Đông Giang vàng nắng bao la
từng rổ cá em đội về từ Mỹ Khê Tân Thái

mùa thu Đông Giang dễ thương như thiếu nữ
nắng nhuộm dòng sông những buổi sáng qua phà

quê anh nghèo nhưng còn đẹp những buổi chiều
nắng trải trên đường quê quanh năm đất cát…
(Những con đường mùa thu Đông Giang)

Yêu quê hương là một tình cảm thiêng liêng, vốn có sẵn trong trái tim mỗi người. Tuy vậy tình cảm này khá mơ hồ. Những nghệ sĩ sáng tác, thường có nhiều khả năng bộc lộ một cách cụ thể. Cơ hội bày tỏ tấm lòng mình thuận tiện nhất là khi xa cách, dù bởi bất cứ nguyên nhân nào. Nguyễn Đông Giang, dĩ nhiên có rất nhiều cơ hội trong hai chặng đời, trên đường lưu lạc và trên đất tạm dung. Với anh “Quê hương và em – từng đêm tim nhói / nỗi nhớ ghim sâu – rỉ máu trong hồn”. Và tâm hồn anh cao ngất những hình ảnh: “Hồn mình – trời quê – cây đa bến cũ / ca dao mẹ ru – gió vọng à ơi”. Có lẽ không còn gì vui hơn là: “nửa đêm ngồi viết cho ai / cho quê, cho mẹ, cho vài người thương” bởi vì: “Thúy Kiều ngồi gãy đoạn trường / còn anh rỉ máu tha phương xứ người”. Những rỉ máu âm thâm ấy biến thành những dòng thơ đầy ắp những chân tình:

“có một việc suốt đời không quên được
như mỗi người lưu lạc nhớ quê xa
như anh ra đi để lại quê nhà
chắc chắn nhớ thương theo anh ròng rã

anh chẳng biết nói gì với quê hương
dù nhiều đêm anh nhớ thương đứt ruột
mùa đông Cali nằm nghe giá buốt
rét mướt bên này – lạnh giá bên kia

chẳng bao giờ quên được cố hương
làm sao quên nơi chôn nhau cắt rốn
Hà Thân ơi ! nuôi anh khôn lớn
hỏi làm sao anh không nhớ sao đành”
(còn một quê xa để nhớ về)

“…có khi là dòng sông bến nước
sáng rổ cá tôm em đội qua nhà
mùi mắm cái quê em Tân Thái
bỗng ngậm ngùi thoang thoảng hương xa
nước sông Hàn dưỡng nuôi Đà Nẵng
thắm thiết ngọn hoa An Hải Sơn Chà
nước sông ấm chảy vào tim phổi
róc rách ân tình sông núi thiết tha…”
(Quê Xa)

Tâm sự của chúng ta, mấy ai khác biệt với nỗi niềm của người làm thơ. Thi ca quả là một vạt đất mầu nhiệm để trồng tỉa những nhớ nhung, san chia những đau buồn. Nỗi nhớ thương quê nhà vốn là một căn bệnh nặng theo Nguyễn Đông Giang: “lắm khi nỗi nhớ thành căn bệnh /  căn bệnh trầm kha chết mỏi mòn, Vì thế anh đã xử dụng khả năng thiên phú của mình, đề gầy dựng cả khu vườn thương nhớ, tươi tốt với những cành “Em Có Về Đà Nẵng”, “Những Câu Thơ Một Thuở Quê Nhà”, “Quê Xa”, “Ngày Sài Gòn Đổi Tên”, “Bài Cho Hội An”, “Ba Mươi Nam Sau Đà Lạt Có Còn Em”, “An Hải Rượu Gạo Bên Sông”, “Hà Thân Ngày Về”, “Mai Em Có Về Tân Thái”... Hy vọng bệnh nhớ nhà của anh đã thuyên giảm khả quan.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại Sài Gòn, ngày 29 tháng 3 năm 1975 tại Đà Nẵng. Sự thay màu cờ ở miền Nam Việt Nam thường được cho là một cuộc đổi đời. Nhận xét, đánh giá này vô cùng chính xác. Nó chỉ sai ở điểm dùng chữ giải phóng trật đối tượng. Ngày nay, đồng bào quốc nội cả hai miền, đều đã rõ ai giải phóng ai, không cần phải giải thích, dẫn chứng.

Chừng ba ngày cuối tháng 3 – 75, tại Đà Nẵng hoàn toàn vô chính phủ, để tiếp liền cuộc đổi đời một cách tích cực, nhanh chóng. Nguyễn Đông Giang, Hoàng Quy, Trương Xếp, Phan Minh Khóa, Chu Tân… là những nhân vật “thức thời” với một tốc độ siêu đẳng. Trong lúc những Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Nguyễn Văn Pháp… rề rà và chỉ thử xuống cấp chừng vài tiếng đồng hồ rồi bỏ cuộc. Đội ngũ chạy xe thồ đã bổ sung nhân lực. Nếu Luân Hoán có hơi xạo khi mượn hình ảnh người khác để viết “đổi đời ta đạp xích lô / chở em đôi bận đâm vơ vẩn buồn…” hoặc Thái Tú Hạp dùng tình cảnh ông quản đốc đài phát thanh Hoàng Quy, đi xe thồ gặp người tình cũ  để “mời em lên chiếc xe này / đường qua phố nhỏ thân gầy guộc thương…” thì hai nhà thơ Chu Tân, Nguyễn Đông Giang nhập cuộc tận tình. Không biết Chu Tân viết được những gì ? Phần anh Nguyễn Đông Giang chơi một lúc hai bài Thồ Ca, một bảy chữ, một ngũ ngôn:

Ta là anh xe thồ
Dọc đường gió bụi hát nghêu ngao
Đón đưa bao khách về trăm bến
Nhưng còn ta chẳng có bến nào

Cá đầy gánh chưa mời em đến chợ
Rau nặng chị đừng đi bộ đau chân
Mời khách quá giang đi đâu cứ gọi
Ta sẵn sàng chìu dù mỏi gối bong gân

Ta viết cho mình hay cho ai
Cớ sao không nén được thở dài
Thân ngựa xe nầy như thân đĩ
Chở hết mọi người nhưng còn lại được ai !

Ta viết bài thơ ta đề tặng ta
Tặng khách đi qua đi lại bến phà
Tặng cái xe già, cái đời thồ sĩ
Thơ thẩn làm gì , ừ ! ta cũng quên  ta
(thồ ca 1)

Khách bộ hành đi lên 
ta xe thồ đi xuống 
chở đi bao ước muốn 
mang về vạn tình thương.
xe bon đường rực nắng 
mồ hôi đổ dặm dài 
khách ơi em là ai 
có biết ta thấm mệt
nhưng rồi ta phải lết 
giữa nắng bụi mịt mờ 
làm sao không viết thơ
trong cõi buồn rực rỡ…
(thồ ca 2)

Nguyễn Đông Giang đã áp dụng câu khẩu hiệu “lao động là vinh quang” một cách nghiêm túc. Nghề nào cũng đáng quí, một răn dạy, khuyến khích của người xưa. Dù sao trường hợp đổi đời của những chàng có máu thơ thẩn cũng có ít nhiều chua xót.

Từng là một thuyền nhân, có nhiều năm tại trại tị nạn, Nguyễn Đông Giang đương nhiên dành một nhánh thơ cho chặng đời khó quên này. Khi đã đặt chân đến trại tị nạn Sekkong ở Hong Kong, anh viết bài thơ đầu tiên vào tháng 8 năm 1991 để gởi tình về quê nhà:

“đi đâu cũng gặp chuyện bể dâu
lắm trò gai mắt lụy nhân sầu
tù đày, giam cấm, ta đã nhuyễn
chớ hù ta nữa, Sekkong ơi

đã đến đây rồi đành bỏ lại
bến sông quê hiu hắt bóng hàng dừa
những đêm thức khuya lơ nghe chó sủa
nhớ từng con đom đóm ướt mưa

đã đến đây rồi còn chi mất nữa
ngoài những thương yêu chiu chắt trong lòng
mỗi người Việt Nam, mỗi cánh chim phiêu bạt
đâu có ngại gì gian khổ long đong…

đã đến đây rồi Sekkong đất mới
ngủ đỡ đêm nay chưa biết mai đâu
còn đất còn trời bao la đại lượng
nằm ở nơi nào tránh khỏi niềm đau…”
(Từ Sekkong gửi em quê nhà)

Nằm trong giai đoạn đầu của cuộc đời tị nạn, đau buồn, tủi nhục, hồ nghi, hy vọng là điều đương nhiên. Riêng với Nguyễn Đông Giang còn có chút ít mặc cảm, anh ngậm ngùi trải lòng:

“…một đôi lời thăm em thăm mẹ
một đôi lời nhắn nhủ bạn bè
quê hương đừng trách ta phản bội
làm kẻ ra đi – cũng chạnh lòng”

và không nhắc nhở mình:

“ra đi – ra đi – hẹn ngày trở lại
ta là ta – ta đâu phải Kinh Kha
cố quốc mến yêu – chờ tái ngộ
ngày ta về – sông núi – khải hoàn ca”
(Từ Sekkong gửi em quê nhà)

Nguyễn Đông Giang tiếp tục viết “Áo Anh Em Mặc”, “Gởi Em Bên Trời Đất Nước”, “Vô Cùng”, “Về Làm Chi Em”, “Đêm Mưa Tháng Chín Quê Người”, “Hei Ling Chau”, “Vạn Cổ Ca”, “Tình Ca Hải Đảo”… Tổng cộng thơ viết trong chặng đời này dừng ở con số 22 bài. Một số lượng không nhiều nếu tính theo tỉ lệ năm tháng tác giả đã sống và chờ đợi tại vài trại tị nạn ở Hong Kong (1991-1996). Về nội dung, không có tính chất thời sự hoặc hồi ký, chỉ thuần túy là những giải bày tâm sự. Những thương nhớ được gói ghém trong thơ để gửi về cho mẹ, cho vợ con đang lo lắng trông đợi tại quê nhà. Xin được trích thêm vài đoạn thơ bảy chữ, để chia xẻ muộn màng cùng nhà thơ, vốn rất ưu phiêu bồng:

“…từ trại cấm về một trại cấm
lục địa chán rồi, đến đảo xa
ở đâu cũng thế, hàng rào sắt
giữa đại dương mù mịt quê nhà

nhớ nhà ta ngâm thơ nho nhỏ
vừa đủ nghe vừa đủ ngậm ngùi
đủ mòn mỏi tấm lòng lữ thứ
nhớ vô cùng – cố thổ xa xôi

quê nhà ở hướng đông nam ấy
có mẹ ru con bằng ca dao
ôi chao ! ta nhớ mờ con mắt
chữ hóa thành thơ – chữ nhạt nhoà

dù muốn hay không phải ở đây
tự do có phải là lưu đày ?
mây nước mênh mang – trời cố quốc
sầu mình – mình biết, ừ vậy thay !”
(Hei Ling Chau)

Cay đắng đến não lòng. Thú thật, tôi chưa được đọc nhiều thơ viết về đời tị nạn, của đồng bào chúng ta, tại nhiều trung tâm tạm trú khắp thế giới. Hình như rất ít tác giả chạm đến chủ đề này. Vì thế, với tôi, thơ Nguyễn Đông Giang giàu cảm xúc sống thật, tôi cho là xuất sắc, tuyệt vời.

Được nhìn nhận là một người phóng khoáng, chuộng cuộc sống tang bồng, Nguyễn Đông Giang đương nhiên dan díu với vài thú vui nam nhi, cụ thể nhất là rượu. Trong thơ anh phảng phất hơi men này đến mức độ nào ? So với Hoàng Lộc, Phan Xuân Sinh, Hà Nguyên Thạch, Hà Nguyên Dũng, Đynh Trầm Ca, Vũ Hữu Định, Đynh Hoàng Sa…rượu trong đời thường của Nguyễn Đông Giang có phần mạnh nhất. Nhưng trong thơ, anh rõ ràng rất khiêm nhường. Thời “mặt mũi đen sì lấm bụi bốn phương” chạy xe thồ, hương rượu chỉ phảng phất

chiều có bạn bè sớt cho chút rượu
đủ để ngà ngà trong cõi khói sương
(thồ ca 1)

Trên bước đường lưu lạc,  khi nằm nghe chim hót ở một thung lũng, buồn tình, buồn miệng, nhà thơ mới chợt nhớ

chim hót lời oan nghiệt
trên đỉnh cao núi lạ
ta nằm dài, vật vã
thèm rượu, nhớ tình em
(chim hót đìu hiu thung lũng lạ)

Cho mãi đến khi đã làm người lưu vong, Nguyễn Đông Giang mới cho gia đình nhà rượu, xuất hiện trong thơ anh đậm nét hơn một chút:

“… sáng nay tự nhiên ta thèm
vài ly rượu đế xin em rót mời
miếng củ kiệu – đưa một hơi
cùng em nghiêng ngửa – giữa trời quê hương
rượu xưa em – đậm tình thương
rượu nay cô độc – bên đường lưu vong

rượu xưa sóng sánh – bồi hồi
rượu nay lạnh lẽo – xa xôi vô cùng
cầm ly rượu nhớ mùa xuân
nhớ ly rượu gạo tưng bừng phổi gan
rượu đưa ta thăm xóm làng
ba hoa lời chúc – huyênh hoang tiếng chào
bây giờ ta xa đồng bào
đâu còn nghiêng ngửa – lao đao rượu mời
mùa xuân uống rượu lưu vong
rượu rưng rưng giọt – ròng ròng lệ đau
tha hương uồng rượu vơi sầu
gờ đâu rượu khuấy động đau trong hồn
(lưu vong rượu ngoại, ngậm ngùi xuân xưa)

Tôi nhớ cách đây vài năm, khi tình cờ đọc ké cuộc bình bàn thơ viết về rượu, của các anh Thiếu Khanh, Lại Quảng Nam… trên mạng điện toán, tiêu chuẩn để được chọn một bài thơ rượu rất khó khăn. Tôi cũng đồng tình, một bài thơ có hương rượu đẹp, phải thể hiện được nét hào phóng, sảng khoái của người đang thưởng thức rượu. Đoạn thơ rượu của Nguyễn Đông Giang có phần yểu điệu, mềm mại quá, có thể do thể thơ lục bát rất khó viết hay.

Trong bài An Hải Rượu Gạo Bên Sông, với thể loại bảy chữ, Nguyễn Đông Giang có những câu ngất ngưỡng hơn:

“… một thời thèm rượu đong nửa xị
hai thằng cưa, chẳng thấm vào đâu

cảm ơn An Hải ta về lại
rượu mới phần chai, đã say nhừ
ta quá vui mừng, hay buồn bã
chắc ta già…, rượu vật hình như

rượu gạo quê ta là rượu trắng
uống vào, thấy trắng cả non sông
ta về chẳng buồn mình tay trắng
uống rượu quê, khuây khỏa tấc lòng”

Chắc các bạn đồng ý với tôi, đọc đoạn bảy chữ Rượu Gạo…thú vị hơn đoạn lục bát Lưu vong rượu ngoại nhiều.

Cũng đồng dạng với người bạn đường của tửu vương Lý Bạch, thơ tình lứa đôi cũng Nguyễn Đông Giang cũng khá nhạt nhòa. Tình dành cho người đẹp ngoài đời thường có lẽ nhiều. Trong thơ có phần ngược lại. Ngày xưa nhà thơ Cao Thoại Châu đã Mời Em Uống Rượu. Bây giờ Nguyễn Đông Giang táo bạo hơn Mời Em Ngủ Lại. Các cụ thường nói: người đàn bà đến nhà hay quên đường về, hoặc đánh mất cái gì quí giá. Chúng ta xem cái bạo gan của Nguyễn Đông Giang ra sao:

mời em ngủ lại nhà tôi
giường tre chiếu lát nhưng rồi sẽ quen
mời em ngủ lại một lần
chuyền nhau chút rượu cho gần nhớ nhung
mời em đuổi muỗi giăng mùng
thơ tôi cứ trải cho cùng cõi vui
em ơi cứ ngủ cho vui
tay tôi em gối ngậm ngùi đó em
em ơi cứ ngủ một đêm
lòng tôi là cả tấm mền thủy chung
cứ suy cứ tính cho cùng
đời nhau giỏi lắm là vùng đớn đau

Quả là một lời tán tỉnh thực thà, trực diện. Đã mời em đến còn cho uống rượu, còn động chiếu động giường… y hệt một Nguyễn Văn Ngọc từng chạy vespa ngoài đời. Tuy vậy, tôi đoán, anh thất bại. Phải chi anh phải tự tay trải chiếu giăng mùng em chắc chắn sẽ đồng ý ngủ cho vui. Không phải chỉ một đêm, mà nhiều đêm, cả đời nữa không chừng.

Có lẽ những nét vẽ dưới đây là một bóng hồng khác, kề cận hơn:

em về làm nắng mùa xuân
trong anh đông ngự khô từng lá cây
em về, bước nhẹ như mây
nước da em trắng thân gầy dễ thương
ngày xưa khi má em hường
mưa nguồn, gió biển cùng thương má đào
em về tóc rối xanh xao
lược tay anh gỡ, ôi chao ! diệu huyền
xa em, tình khóc truân chuyên
gần em,anh thở ưu phiền trên môi
(buổi em về)

Lục bát mời mọc của Nguyễn Đông Giang khá kín đáo nhẹ nhàng. Được ca ngợi nhan sắc, được hứa dùng tay để chải tóc, chắc nhiều cô nàng cảm động. Tôi thật sự không biết, những ông thi sĩ làm thơ tán gái có ông nào thu hoạch tốt không, hay yêu chỉ để lời năm ba bài thơ cho vui đời. Cao Thoại Châu, Hoàng Lộc… nhớ trả lời giùm nhé.

Riêng Nguyễn Đông Giang, có phải từ tình yêu chuyển sang tình chồng vợ hay không ? Nghi vấn này không cần trả lời khi căn cứ vào số lượng thơ, chất nồng nàn trong những bài viết, anh tặng Bích, vợ anh,

Thay vì mất mạng như hai nhà giáo Lê Văn Bảy, Trần ngọc Thành (chủ trường Mầm Non), trong tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền”, Nguyễn Đông Giang chỉ gở lịch già sáu năm. Trước những giọt nước mắt mừng đoàn tụ của vợ, anh đã có ba mươi hai câu thơ thật cảm động:

“… anh về thân đã tàn quá đỗi
con hổ trúng tên dẫy dụa bên đời
em đừng khóc – đừng buồn chi vội
cho đời mình lúc cạn lúc vơi

vẫn em đó – của anh thuở đó
đã già hơn từ buổi xa chồng
đã son sắt với người lao lý
em đep nhiều nhờ buổi long đong

gạo em nấu mồ hôi nướt mắt
anh nhai cơm từng hạt thủy chung
rượu đâu uống lòng đà say ngất
tình đã quen hơi ấy vô cùng…”
(cho em từ ngày về)

Trong thời gian ở trại tị nạn, chán ngán, tù túng, tác giả nhớ đến quê nhà, mẹ già, nhớ đến cuộc đời cơ cực của vợ. Anh thấy ra cái đói cái lạnh, nên đã chua xót khuyên vợ ,nên lấy áo quần của anh còn bỏ lại để mặc qua ngày. Tình nghĩa thật vô cùng:

“thương em còn ở quê nhà
còn anh ở tuổi càng già càng đi

em về lấy áo anh phoi
mùa đông em mặc, nhớ đời phong sương
em là rượu tiễn dặm đường
còn anh lữ khách biết phương nào dừng
thiếu anh đời vẫn dửng dưng
áo anh em mặc thấy chừng bên nhau
(áo anh em mặc)

“… anh chừ đây như áng mây trôi nổi
từ buổi xa em trôi giạt bao miền
vỗ giấc cô đơn, em về bên mộng
anh gắng mừng vơi hạnh phúc phù du”

Chỉ nằm mộng thấy vợ đã là một hạnh phúc, thật tuyệt vời. Tình chăn gối còn rất nhiều trong Vô Lượng Tình Sầu. Nguyễn Đông Giang đã lót thâm tình này vào nhiều bài viết, mỗi bài một đôi dòng. Chị Bích, phu nhân của nhà thơ, năm 1998 đã được đoàn tụ cùng chồng con. Lần này, nhà thơ đã dành hẳn cho vợ một bài viết mặn nồng, có cả đề tặng hẳn hoi:

tháng ba em qua trời xanh lại
ngày hết hoang vu đêm đẹp không ngờ
Chim rủ nhau về hàn huyên trước ngõ  
riú rít  tâm tình, ngôn ngữ như thơ

anh bây giờ cũng hiền như Phật
tha thứ kẻ thù, lòng sẵn bao dung
chú chó, cô mèo cũng thành tri kỷ
như yêu em – lòng thấy trẻ vô cùng

anh thân ái mời em bát nước
rót từ tay anh – tình đậm như chè
cánh tay trái từng đêm em gối
từng đêm quê nhà, mưa lạnh anh che

anh bây giờ miệng vui như sáo
như trẻ thơ, dù đã già đầu
dù dư biết tóc mình bạc trắng
cả nỗi lòng khánh kiệt có sao đâu

tháng ba xa xứ em qua Mỹ
em không sang sông – em đi theo chồng
chẳng ai tiễn đưa – mình anh đón đợi
chỉ còn tấm lòng hồn ngập nắng xưa
(tháng ba xa xứ em qua Mỹ)

Xin tạ ơn bề trên, đã cho những cặp chồng vợ Việt Nam sum vầy, sau những cách chia, khởi từ một chế độ chính trị. Mừng ông bà nhà thơ nhâm nhi hạnh phúc.

Đọc thơ Nguyễn Đông Giang, tôi cảm thấy tác giả thật gần gũi với mình. Sự thân thiết một phần là bạn học thời vào đời ở mái trường Hoàng Diệu. Sự thân thiết có từ thời cùng xuống đường, từ thời cùng ghé thăm Đường Rầy Đà Nẵng, và có lẽ ở trong nhiều câu thơ. Dân Quảng Nam mà, không ai học ai, nhưng chất đất sỏi đá, chất nước trong xanh sông Hàn đã tạo nên những nét anh em trong thơ.

Tản mạn với riêng tôi là đi tìm những đồng cảm, những nét đẹp trong thi ca. Bạn sẽ thấy, ở bất cứ thơ ai, cũng có những cái vụng. Nhưng chẳng hề chi, khi đọc bạn đã sống cùng với người viết là tuyệt vời rồi, không cần phải vạch lá tìm sâu. Chuyện chi phải làm một người phê bình cho mệt.

Sáng nay, khi bài viết này mới được nửa bài, tôi nhận tin: Nguyễn Đông Giang sẽ cho in thi phẩm mới trong năm nay. Tập thơ có tên gọi Bản Tình Ca Cũ. Tôi không đọc trước bản thảo của anh như hai lần trước. Anh có gởi đến tôi duy nhất một bài. Bài này có đề tặng một nữ ca sĩ. Không được phép, nhưng tôi muốn nhanh tay hơn tác giả, chuyển bài thơ đến ca sĩ Lệ Thu.

Bản Tình Ca Cũ
Tặng ca sĩ  Lệ Thu – ndg

Non sông còn lại bài ca cũ
Em hát làm chi nữa thêm buồn
Ngã ngựa. Cuối đời. Thân thất thổ.
Cuối đời nhớ nước. Lệ còn tuôn

Khi em hát bản tình ca cũ
Anh nghe sầu dâng tận phương này
Anh theo tiếng hát về quê Mẹ
Chiến tranh tàn lụn. Buồn vậy thay !

Nỗi đau nào trong bản tình ca
Mà em hát làm anh xốn dạ
Lưu vong hề ! yên thân , đẹp mã
Non nước chờ ai . Kẽ lãng du !

Khi em hát bản tình ca ấy
Anh ấm lòng mơ ước buổi về 
Em ạ. Có ngày anh trở bước
Quay về . Hôn lại mảnh đất  quê
Khi nghe em hát . Anh nhớ quá  
Nhớ xưa em . Lặn lội nuôi chồng
Nhớ thuở điên khùng . Quăng súng đạn
Nghĩ  càng thêm hổ . Thẹn non sông !
Non sông còn lại bài ca ấy

Em hát còn anh. Chỉ đau lòng
Em hát làm anh. Không ngủ được
Đau lòng. Đau nước. Phận lưu vong !

Thèm nghe em hát . Nhưng khổ nổi
Anh vốn tủi thân . Dễ nhớ nhà
Trời ơi ! con quốc xa rừng khóc
Em đừng hát nữa . Bản tình ca .

Hà Khánh Quân, bút hiệu khác của Lê Ngọc Châu (Luân Hoán)
04-6-2010

Đã xem 556 lần.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*