Hoạ Thơ Thái Cuồng

Lời Quê Góp Nhặt 

Ngẫm cảnh quê hương luống ngậm ngùi 
Coi thơ xướng họa cũng nguôi nguôi 
Khá khen dũng khí luôn tràn ngập ………
Lại phục từ tâm vẫn sáng ngời 
Lẫn lộn vàng thau, nghe đã khoái 
Nhiễu nhương người ngợm thấy càng vui 
Tạ ơn tri kỷ, đồng thanh khí 
Quê kệch, nôm na, góp mấy lời. 

Thái Cuồng 
Houston, đầu Thu 2000 

Bài Họa 

Khởi Hành đọc đến luống bùi ngùi 
Nỗi nước tình nhà nhớ chẳng nguôi 
Thơ họa lúc này mây sớm nổi 
Tấc lòng ngày cũ nét son ngời 
Người quen tìm lại càng thêm tủi 
Cảnh lạ nhìn qua cũng vẫn vui 
Mình có thi ca là lãi đấy 
Tạ ai thật khó nói nên lời. 

Huệ Thu 
Sanjose, 10 05 00 

*** 

Tâm Tư Kẻ Sống Lưu Vong 

Lâu năm tỵ nạn chốn tha phương 
Héo hắt lòng già, nặng nỗi thương 
Đất nước trong tay loài bạo ác 
Nhân dân dưới ách lũ côn quang 
Cộng đồng chia rẽ đầy ngao ngán 
Văn bút tan tơi đậm chán chường 
Bao kẻ đua tranh theo thói Mỹ 
Nào ai đoái tưởng chút luân thường 

Nào ai đoái tưởng chút luân thường 
Xa cách ngàn trùng bởi đại dương 
Mỹ tục, thuần phong theo đám khói 
Tiền đồ Tổ Quốc phủ màn sương 
Những mong sớm thấy điềm hưng quốc 
Quá ngán toàn nghe chuyện huých tường (*) 
Khúc Hậu Đình Hoa ai hát mãi 
Buồn lòng, ta khấn Tổ Hùng Vương 

Buồn lòng, ta khấn Tổ Hùng Vương 
Ước vọng ngày khôi phục kỷ cương 
Cách mệnh khu trừ quân bạo ác 
An bang suy cử bực hiền lương 
Vĩ nhân xuất hiện lo bình trị 
Thiện chính thi hành dẹp nhiễu nhương 
Quốc thái, dân an trong hạnh phúc 
Việt kiều chung tái thiết quê Hương. 

(*) “Huynh đệ huých tường”: anh em đánh nhau trong nhà 
(trích trong Khi Thi Trung Hoa). 

Thái Cuồng 

*** 

Mai Mốt Ta Về Lại Cố Hương 
(Họa Tâm Tư Kẻ Sống Lưu Vong) 

Trời bốn phương lòng chỉ một phương 
Năm chầy tháng lụn thấy sao thương 
Ân tình khó thể đem quăng sạch 
Rác rưởi làm sao dọn thật quang 
Chữ đức mình mong cùng nẩy ngọn 
Mặt mo chúng thích cứ đem chường 
Sống thời bát nháo thôi đành vậy 
Chỉ chuộng hư danh cũng sự thường 

Chỉ chuộng hư danh cũng sự thường 
Quê nhà cách trở vạn trùng dương 
Đêm về ngoảnh lại đầy mưa gió 
Chiều xuống nhìn về loạn khói sương 
Dạ hợp vài cây xanh trước cổng 
Hướng dương ít đóa nở bên tường 
Sinh ra đã trót là nhi nữ 
Sao cứ bên lòng mãi vấn vương 

Sao cứ bên lòng mãi vấn vương 
Bao giờ ngựa Ký lỏng dây cương 
Bắc Nam góp mặt trang hào sĩ 
Đất nước ngoài tầm bọn bất lương 
Đạo chích dễ gì còn hích hích 
Lưu manh đâu lẽ cứ nhương nhương 
Cùng thông thời vận rồi xoay chuyển 
Mai mốt ta về lại Cố Hương. 

Huệ Thu 

*** 

Thi Sĩ Thiên Tài 
(Tặng Nữ Sĩ Huệ Thu) 

Vốn sẵn thiên năng tự thiếu thời 
Quốc Gia trao giải nhất văn xuôi 
Đề thơ, phóng bút nhanh như chớp 
Ứng khẩu họa vần lẹ tựa thoi 
Nguồn suối văn-từ khôn lẽ cạn ? 
Kho tàng thi-liệu dễ chi vơi ? 
Ví còn thi cử như thời trước 
Ắt hẳn Thu-nương đoạt Giáp khôi ! (1) 

(1)”tranh Khôi, đoạt giáp”: từ ngữ bóng bẩy 
chỉ những sĩ tử dự thi đại- khoa thời xưa 

Thái Cuồng 
Houston, Đầu Thu 2000 

Cám ơn Bác Thái Cuồng đã quá khen, 
Huệ Thu xin phụng họa: 

Nữ Nhi Ai Đã Chiếm Tam Khôi 
Bài Họa 1 

Chẳng qua là thế chẳng qua thời 
Dòng nước xưa nay mãi chảy xuôi 
Cũng thử học đòi người trưởng thượng 
Dám đâu bắt chước kẻ gieo thoi 
Viết bài thơ mới chưa từng mỏi 
Múc mãi sông Hồng khó thể vơi 
Tôi vẫn từng nghe khoa giáp cũ 
Nữ nhi ai đã chiếm tam khôi ? 

Bài Họa 2 

Lại nhớ xưa kia có một thời 
Văn thơ vào hạng cũng xuôi xuôi 
Tài hoa nghĩ lại ba cơn mộng 
Ngày tháng qua mau một chiếc thoi 
Nỗi nhớ định quên sao vẫn chép 
Biển sầu muốn tát dễ gì vơi 
Cho nên võ vẽ vài câu họa 
Đâu dám tranh đua dẫu Á Khôi. 

Bài Họa 3 

Bà Điểm (*) ngày xưa đã một thời 
Nghĩ mình văn viết chửa hề xuôi 
Đã bao nước mắt câu thơ dệt 
Biết mấy mùa xuân cánh én thoi 
Thôi cứ thanh nhàn may cũng đến 
Nghĩ ra duyên nghiệp lại dần vơi 
Tạ người, đâu dám còn mơ hão 
Cũng chẳng Khoa mà cũng chẳng Khôi. 

(*) Bà Điểm : Bà Đoàn Thị Điểm 

Huệ Thu 
Sài Thôn Lưu Ký 
Một ngày mưa tháng mười năm 2000 

Ngó Về Quê Hương 

Buồn thay cho con cháu Hùng-Vương 
Lộn giống nên thay đổi lạ thường 
Lai Á, lai Phi, lai Ả rập 
Dở Âu, dở Mỹ, dở Đông-Dương 
Lưu manh, cộng-phỉ đầy dinh thự 
Kẻ cướp, gian thương ngập phố phường 
Ma túy, bạc bài kiêm đĩ điếm 
Bao giờ dân thoát khỏi tai ương?… 

Thái Cuồng 
Houston, Thu 2000 

Bọn Trung Ương 

Bài họa I 

Ra đi lòng luống những tơ vương 
Ôi chuyện lưu vong cũng bất thường 
Khăn khắn dám quên lời giáo huấn 
Mịt mù còn nhớ sóng trùng dương 
Mấy trò bỉ ổi đầy đường chợ 
Những thứ lưu manh chật phố phường 
Tội ác chẳng qua do tụi nó 
Thằng Phiêu, thằng Khải bọn trung ương. 

Trên Đường Lưu lạc 

Bài họa II 

Mười tám đời vua nghiệp Đế Vương 
Lên voi xuống chó chuyện bình thường 
Câu thơ thuở ấy trai thời loạn 
Mối hận ngàn xưa gái họ Dương (*) 
Đọc sách bên đèn tìm chuyện lạ 
Rủ nhau giữa chợ nhóm thành phường 
Ôi thôi! Trên bước đường lưu lạc 
Còn tránh làm sao chuyện ẩm ương. 

(*) Dương Quý Phi 

Huệ Thu 
Sài Thôn Lưu Ký Thu 2000 

Nặng Nợ Thơ Đường 
(Tự Thuật) 

Bẩy mươi mấy tuổi, tóc phong sương 
Ngán nhẽ Thơ Đường chẳng chịu buông 
Thơ phú đôi khi sinh mối oán 
Ngôn từ lắm lúc nẫy tơ vương 
Tìm vần, nứt óc, toan thôi quách! 
Thiếu đối điên đầu muốn bỏ ngang ! 
Luận, Thực gò xong, lo chuyển, Kết 
Lao tâm nhưng vẫn khoái thơ Đường. 

Houston, Thu 2000 
Thái Cuồng 

Bài Họa 
Không Cần Câu Nệ 

Vốn đã thăng trầm, đã gió sương 
Mà thơ, sao lại chẳng hề buông ? 
Vũ, Đinh (1) ngày trước từng lưu luyến 
Lý, Đỗ (2) ngàn xưa cứ vấn vương 
Thực, luận vậy thì đành bỏ lửng 
Phá, thừa thôi lại cũng quên ngang 
Tam Khôi thuở trước còn ai nhớ ? 
Chỉ nhớ thi nhân thuở thịnh Đường. 

(1) Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng 
(2) Lý Bạch, Đỗ Phủ 

Huệ Thu 

Quyết Thắng Gian Lao 

Vượt biển dùng thuyền bé tí teo 
Sóng va, gió giật đã nhiều keo 
Đương nhiên cực khổ khi lèo lái 
Ắt hẳn vui mừng lúc thả neo 
Người khoái thành công, cười “hí hí” 
Mèo khoe đắc thắng, réo “ngoeo ngoeo” 
Tài trai há chịu thua ai đó ? 
Cỡi sóng dâng cao, tớ vững chèo ! 

Thái Cuồng 
Thu 2000 

Bài Họa 

Sóng cả thuyền con, nghĩ muốn teo 
Đường cùng thôi thử một vài keo 
Đêm khuya, tay mỏi không cầm lái 
Gió lớn, người đông chẳng dễ neo 
Sóng bạc, lòng buồn xiêu lại vẹo 
Trăng mờ biển cả ngoẹo rồi ngoeo 
Người ta cứ bảo thân bồ liễu 
Bồ liễu giờ đây cũng phải chèo. 

Huệ Thu 
Sài Môn Lưu Ký Thu 2000 

Thầy Phù Thủy Hãy Coi Chừng 
(Nhân chuyến công du của Tổng Thống Mỹ tại Việt Nam) 

Nghe tin Tổng Thống Mỹ công du 
Mặc oán, làm thân, xóa hận thù 
Dùng món đô la “khều” lũ nhũng 
Đem nền kỹ thuật nhử phường ngu 
Nga Sô, tớ đã “mời” vô… rọ 
Việt Cộng, ta nay “rước” bỏ …lu 
Phù Thủy sai âm binh tát nước 
Coi chừng chúng phản, “bóp”… thằng Cu ! (*) 

(*) Chuyện truyền tụng trong dân gian Việt Nam: Thầy Phù Thủy thương khoe tài, sai âm binh đi tát nước vào ruộng của mình, nhưng vì ngủ quên đến áng, âm binh không được thu về nên chúng quay lại “bóp chết” thầy hoặc con thầy. 
Thái Cuồng 

Tổng Thống Lãng Du ? 
(Bài Họa) 

Tổng Thống lẽ nào lại lãng du ? 
Tại sao làm bạn với quân thù ? 
Đem đồng bạc trắng xoay phường mọi 
Lấy tí lợi còm dử lũ ngu 
Chú Tẩu hết thời sang chú Vẹm 
Con Ki còn đợi đến con Lu (1) 
Clinton không phải non tay lái 
Thủ đoạn anh chàng vốn bố cu (2) 

(1)Ki & Lu : Việt Nam thường đặt tên cho mấy con cẩu. 
(2) beaucoup : nhiều 

Huệ Thu 

Nữ Trạng Nguyên Thời Xưa 

Năm Thìn (1) , Mạc Chúa mở khoa thi 
Hương, Hội, Đình ra đủ mọi kỳ 
Nguyễn Thị (2) nam trang xin ứng thí 
Văn tài xuất chúng dễ ai bì ? 

II 

Đủ mọi kỳ thi, đã vượt qua 
Tới kỳ đình đối, rõ tài hoa 
Bảng vàng choi chói từng ghi rõ 
Đệ nhất Khôi Nguyên: Nguyễn sáng lòa. 

III 

Mũ áo, cân đai đã sẵn sàng 
Tân khoa Nguyễn Trạng vẻ xênh xang 
Vua ban ngự yến cùng tân Trạng 
Ngự uyển, vua tôi cất chén vàng 

IV 

Phụng mệnh uống hoài, Trạng quá say 
Mũ rơi, tóc xõa đã phơi bầy 
Mặt hoa, da phấn, trang kỳ nữ 
Mạc chúa vui mừng hạ chiếu ngay 

“Bà Chúa Sao Sa”, dã sử truyền 
Kính Cung Mạc Chúa đã vầy duyên 
Vua băng, nàng đã xin đầu Phật 
Mai một tài hoa chốn cửa thiền. 

VI 

Nữ Trạng đâu riêng ở nước mình ? 
Nguyên Triều quốc sử chép phân minh (3) 
Lệ Quân họ Mạnh từng thi đậu… 
Đệ nhất khôi nguyên sáng chói danh 

VII 

Cải trang thi đậu Trạng Nguyên rồi 
Thùa Tướng Nguyên triều lại chiếm ngôi 
Say rượu, thoát hài, chân tướng lộ 
Mới cùng hoàng Phủ kết duyên trời. 

VIII 

Dân quê đất Việt vẫn truyền tai 
Câu chuyện Tuấn Khanh, nữ Tú Tài 
Há phải nữ nhi xưa chỉ biết… 
Quanh nhà, xó bếp suốt hôm mai ? 

IX 

Giả thử Thu nương tạm cải trang 
Thi cùng nam giới chốn khoa trường 
Làu thông Kinh, Sử cùng thi phú 
Đoạt giáp tranh khôi há chịu… nhường ??? 

Thái Cuồng 

(1) và (2) Theo Việt Sử, sau năm 1600, nhà Mạc còn giữ một số tỉnh và đóng đô ở Cao Bằng. Mật Thiên Dật Sử chép rằng đời Mạc Kính Cung làm vua, có mở khoa thi, và bà Nguyễn Thị Du đã cải nam trang ứng thí, đậu Trang Nguyên, được vua Mạc phong làm Hoàng Hậu. Sau khi Kính Cung chết, bà đã thí phát đi tu. Khi còn ở trong cung, dân chúng gọi bà là: “Bà Chúa Sao Sa”(3) Mạnh Lệ Quân đã cải nam trang, dự thí do triều Nguyên Trung Hoa tổ chức, nàng đậu Trạng Nguyên và được phong chức Tả Thừa Tướng, vì vua nghi rằng là gái nên đã bầy tiệc, cho uống rượu say, rồi cho người tháo giầy (thoát hài), nhưng bàn chân bé nhỏ đã tố cáo rằng là gái Sau đó nàng kết duyên với Hoàng Phủ Thiếu Hoa, Thừa Tướng dưới triều Anh Tôn nhà Nguyên. Sau Hết, nữ tú tài Tuấn Khanh là chuyện dân gian Việt Nam. Một câu chuyện tình khá éo le hấp dẫn . 
Thái Cuồng 

Huệ Thu Xin Đáp Họa 

Bà Tổng * Hoa Kỳ cũng dự thi 
Luật sư, Tiến sĩ cũng ly kỳ 
Nếu vào thượng viện đâu nhường bước 
Mấy lão mày râu đã dễ bì 

II 

Cải trang là cái chuyện hôm qua 
Nào những Trạng Nguyên, những Thám Hoa 
Rốt cuộc phương Đông luôn lạc hậu 
Văn minh họ sáng, chúng ta lòa. 

III 

Nếp cũ khư khư chẳng sảy sàng 
Tưởng đâu áo mão đã cao sang 
Hư văn vì trọng nên hư chuyện 
Chỉ rụng mùa Thu chiếc lá vàng. 

IV 

Chú điển cho nhiều, rượu thật say 
Phá, Thừa ai đặt, Luận ai bày ? 
Tôi đâu dám học làm kỳ nữ 
Chỉ học làm người sống thẳng ngay 

Những câu chuyện cũ chỉ hư truyền 
Bảng chiếm Tam Khôi một chút duyên 
Lý, Đỗ ngày xưa thi vẫn hỏng 
Câu thơ dù chẳng nhuốm mùi thiền. 

VI 

Nhiều buổi lòng riêng tự hỏi mình 
Giờ đây xin hỏi bậc cao minh 
Có cần thi đỗ làm quan Trạng 
Để kiếm cho mình một chút danh ? 

VII 

Tôi nghĩ cải trang hủ lậu rồi 
Bà Trưng là gái chẳng nhường ngôi 
Gái trai thì cũng người ta cả 
Kỳ thị gì nhau thế hở trời ! 

VIII 

Còn nghe văng vẳng mãi bên tai 
Lụy đến ngàn năm một chữ tài 
Thôi chẳng vì danh mà trói buộc 
Cần chi phải nghĩ đến ngày mai 

IX 

Tôi chẳng bao giờ chịu cải trang 
Tôi không tin lắm ở khoa trường 
Hồn nhiên cứ sống như cây cỏ 
Hơn được may ra chữ nhún nhường. 

* bà Tổng : bà vợ Tổng Thống 
Huệ Thu 

Đáp Lại Thơ Họa của Nữ Sĩ Huệ Thu 

Ai xui nương tử cải nam trang 
Giả tỉ thôi, sao đã vội vàng… 
Cải chính rằng không ưa đỗ Trạng 
Chẳng cần thi cử lối từ chương 

II 

Từ chương không ủy mị con người 
Lịch sử từng ghi chép rạch ròi 
Mãnh lực vô biên : Thơ đuổi giặc 
Hành quân ca khúc dự muôn đời 

III 

Truyền hịch thông tin há chuyện chơi ? 
Từng đoàn quân mạnh đã tan tơi 
Nghe lời chính khí, quân bừng tỉnh 
Súng đạn, gươm, đao quảng khắp nơi 

IV 

Nhật Bản xưa nay trọng Đạo Nho 
Nhân Luân, Chính Khí vẫn tôn thờ 
Kinh, Thương, kỹ thuật đều tinh tiến 
Riêng món Đường Thi chẳng bỏ lơ 

Sử xanh ghi chép Tướng Nô Di (1) 
Chiến thắng quân Nga lúc trở về 
Cao hứng ghi vài câu tuyệt diệu 
Khải hoàn tâm sự, gửi Đường Thi (2) 

VI 

Văn minh kỹ thuật rải nơi nơi 
Dân Việt đua nhau học quá “trời”… 
Thế kỷ trôi qua mà vẫn mạt 
Do người chỉ biết học… theo đuôi. 

VII 

Đạo Nho không chỉ trọng hư văn 
Trị quốc, tề gia, bảo vệ dân 
Chỉ tại Triều Đình ta hủ lậu 
Không theo Nhật Bản sớm canh tân. 

(1) và (2) Đai tướng Nogi của Nhật Bản đã chỉ huy quân đánh tan Thủy Lục Quân của Nga Hoàng vào năm 1904 – 1905. 
Khi ca khúc khải hoàn, ông đã cao hứng làm bài thơ Tứ Tuyệt sau: 
Hoàng sư bách vạn chinh kiêu lô 
Dã chiến công thành, thi tác san 
Quí ngã hà nhan khan phụ lão 
Khải ca kim nhật kỷ nhân hoàn??? 

Tạm dịch: 
Trăm vạn quân của Thiên Hoàng chinh phạt giặc dữ 
Thành công trong các trận dã chốn, như thây người chất thành núi 
Thẹn rằng ta mặt nào nhìn các bực phụ lão 
Vì: Khải Hoàn hôm nay, còn bao người trở về??? 

Thái Cuồng 

Đáp Lời Bác Thái Cuồng 
(họa bài Đáp bài thơ họa) 


Thi cử mà sao phải cải trang ? 
Thế ra trai đáng quý như vàng 
Nay mai Hill (1) sẽ “tông tông” đấy ! 
Sử sách từ đây lật mấy chương. 

II 

Câu chuyện từ chương, cái chuyện người 
Đông Phương cam phận sống xưa rồi 
Nhưng mà nghèo đói thua thiên hạ 
Ông lẽ nào quên được sự đời ? 

III 

Văn chương nào phải để mà chơi 
Cũng giúp gì cho lũ chúng tôi 
Lại cứ “chi, hồ” năm tháng tụng (2) 
Chẳng xem khoa học tiến muôn nơi 

IV 

Cho rằng ông học đạo nhà Nho 
Có phải thì ta nhất định thờ 
Những cái tầm phào ta phải bỏ 
Lẽ nào thiên vị cứ làm lơ ? 

Việt Nam họ vẫn bảo Man Di 
Họ chặn đường ta lối trở về 
Ta vẫn hòa đồng cùng ngoại quốc 
Lúc nhàn vẫn thú mấy câu thi . 

VI 

Ông hãy nhìn xem khắp mọi nơi 
Lên trăng, khoa học đã làm trời 
Ông còn luẩn quẩn thơ biền ngẫu 
Có phải là ông chỉ vuốt đuôi ? 

VII 

Tôi vốn yêu thơ, vốn thích văn 
Nhưng tôi vẫn muốn cả toàn dân 
Từ nay no ấm và sung sướng 
Muốn khá ta sao chẳng cách tân ? 

(1)Hillary Clinton – (2) Chi, hồ, giả : lối nói châm biếm cái học của nhà Nho. 

Huệ Thu 

*** 

Xin hỏi thêm 
Bác Thái Cuồng 

Ông coi cụ Khổng đúng hay không ? 
Bởi lẽ mày râu nhất các ông 
Bà Thacher kia tuy phận vợ 
Anh Kim Trọng ấy dẫu là chồng 
Việc làng coi gái như đồ bỏ 
Tiệc rượu mời trai để kể công 
“Thập nữ viết vô” nghe phát ghét ! 
“Nhất nam” đã chắc cứu non sông ? 

II 

Ông xem cụ Khổng của nhà ông 
Có phải bao nhiêu chuyện bất công ? 
Việc nước không cho con gái dự 
Chuyện nhà để mặc bọn trai trông 
Đức vua kén những ba trăm vợ 
Phụ nữ riêng lo một tấm chồng 
“Tiết Hạnh Khả Phong” là bố láo !
Vua đâu tiết hạnh dám đem phong ? 

Huệ Thu 

Kính Gửi Bác Thái Cuồng 

Nghe nói ngày nay bác Thái Cuồng 
Cơn vui dù chỉ rượu thơ suông 
Tiếp Dư (*) thời thế sơn mình hủi 
Phạm Lãi công danh áo thõng buông 
Viết báo ngoảnh về thêm chán mặt 
Theo voi nghĩ lại cũng dơ tuồng 
Chi bằng trăng gió còn nguyên đó 
Canh vắng chùa xa mấy tiếng chuông. 

(*) Tiếp Dư hiệu là Sở Cuồng ngày xưa sơn mình 
cho giống hủi để tránh đời 

Huệ Thu 

Thằng Tôi 
(Bài Họa I) 

Ẩn sĩ thời xưa khéo giả cuồng 
Thằng tôi, nay chỉ mấy câu suông 
Đường Thi cổ hủ còn lo giữ 
Niêm luật ương gàn chẳng chịu buông 
Chán ngấy do nhìn bao thói rởm 
Buồn nôn bởi thấy lắm trò tuồng 
Cho nên mắc bệnh ngông cuồng dở 
Dám ghé làng thơ thử đấm chuông. 

Thái Cuồng 

Cuồng Sĩ Thời Xuân Thu 
(Bài Họa II) 

Giữa buổi Xuân Thu có bác Cuồng 
Tài năng quán thế, vẫn ngồi suông 
Nịnh Dư (1) yêu nước nên cầu kiến 
Vua Sở vô tình mới bỏ buông 
Ngại kẻ hung tàn chơi ngón… độc 
Mượn trò điên dại sắm vai tuồng 
Gặp khi Phu tử toan qua Sở 
Liền chạy theo xe gắng gióng… chuông (2) 

(1) Cuồng sĩ nước Sở tên là Nịnh Dư, không phải Tiếp Dư 
Hai chữ Nịnh và Tiếp viết giống nhau quá nên người ta hay lầm 
(2) Sách Luận Ngữ chép rằng : Đức Khổng Tử định sang nước Sở yết kiến vua nước ấy để mưu quốc chính, trị thiên hạ. Ninh Dư liền chạy theo xe ngài mà hát rằng: “Phượng hề phượng hề! Lả đức chi suy? Vãng giả bất khả gián, lai giả do khả truy! Dĩ nhi! dĩ nhi! Kim chi tòng chính giả đãi nhi!!! Tạm dịch như sau: 
Chim phượng ơi ! Chim phượng ơi! Sao mà đức suy quá vậy ! Cái gì đã qua rồi, không thể can ngăn! cái gì còn ở tương lai thì còn có thể theo mà can gián. 
Thôi đi! Thôi đi! Kẻ làm chính trị thời nay bị nguy lắm vậy!!! 
(*) chim phượng là linh điểu, vua các loài chim ví như thánh nhân trong loài người. 

Thái Cuồng 

Kính thưa Bác Thái Cuồng, 

Cháu là kẻ hậu sinh từ trước đến nay đọc sách cứ thấy ghi Tiếp Dư (Sở Cuồng). Nay bác cho biết phải đọc là Nịnh Dư (Sở Cuồng) mới đúng. Thưa bác không hiểu bác đã căn cứ vào đâu mà khẳng định như vậy ? – Cháu hiện có hai bộ từ điển và quyển Luận Ngữ (bản dịch của Đoàn Trung Còn) trong tay, một là “Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển” của Trịnh Vân Thanh Quyển 2 trang 1150 (xin gửi photo copy để bác xem) và một cuốn là Thành Ngữ Điển Tích của Diên Hương trang 331, và quyển Luận Ngữ bản dịch của Đoàn Trung Còn Xuất bản tại Sài Gòn năm 1954 trang 287 đều nói Sở Cuồng là Tiếp Dư. Xin gửi đến bác 3 bản Copy của cả 2 cuốn Từ Điển và Luận Ngữ . Mong bác cho biết tôn ý. Rất cám ơn Bác. 

Thân Kính 
Huệ Thu 

*****

Trò Hề Diễn Mãi 

Nực cười chế độ ngả hoàng hôn 
Việt Cộng còn đua diễn lắm đòn 
Nhũng lớn bỏ tù đàn nhũng nhỏ 
Tham già khiển phạt đám tham non 
“Mâm trên, mâm dưới chung loài cẩu 
Cấp thấp, cấp cao: một giống chồn 
Trên, dưới, mặt đều như … mõm chó 
Lại lo trát phấn với thoa son. 

Thái Cuồng 

Bác Hồ Hôn 
Bài Họa 

Ngày xưa bế trẻ bác Hồ hôn 
Cả nước giờ đây mới thấm đòn 
Đâu phải tuổi già chơi trống bỏi 
Lại còn đầu bạc gối đùi non 
Dân tuy lành vẫn lòng đang giận 
Tiền dẫu nhiều sao bước chẳng chồn 
Dựng mãi thây ma làm quảng cáo 
Thôi đừng điểm phấn với tô son. 

Huệ Thu 

K.Gửi Bác Thái Cuồng 

Bài 1 

Năm nay nghe bác bảy mươi tư 
Tôi mới năm lăm đã khật khừ 
Lên núi cũng mong làm ẩn sĩ 
Vào đời lại khó học thiền sư 
Thơ từng đêm lạnh bao lần viết 
Mưa ướt mùa Xuân mấy lá thư 
Cuồng sĩ những ai trong bốn bể 
Nam Dương còn nhớ mái Sơn Lư (*) 

(*) Nam Dương nơi ở ẩn của Khổng Minh 
Sơn Lư mái nhà nhỏ ở trên núi. 

Huệ Thu 

Bài Họa 

Đại thọ còn thêm cộng với… tư 
Đi mươi bước đã thở khừ khừ 
Sức tuy hồ cạn còn ham sách 
Đời có hơi buồn, chẳng khoái sư 
Ngán nhẽ ham làm thơ Cổ Luật 
May thay ! Tiếp nhận lá hương thư 
Thấy lời hoa gấm ngâm sang sảng 
Tựa án, bên đèn bóng lắc lư. 

Thái Cuồng 

K.Gửi Bác Thái Cuồng 

Bài 2 

Bác Thái Cuồng nay nhớ Sở Cuồng 
Gỗ tròn sao dễ lắp ô vuông ? 
Công danh nghĩ tới ba cơn mộng 
Sự nghiệp nhìn ra mấy tấn tuồng 
Son phấn lỡ trao sao lại rẻ ? 
Thi ca trót nắm dễ gì buông ? 
Người xưa: trăng gió kho vô tận 
Canh vắng chùa xa vẳng tiếng chuông. 

Huệ Thu 

Bài Họa 

Báu ngọc chi đâu tính ngạo cuồng 
Vót tròn quá vụng hóa ra vuông 
Nhà tranh nằm khểnh, quen lười biếng 
Sân khấu chen vô phải diễn tuồng 
Trót múa cho nên đành phải tiếp 
Lỡ cầu nhưng vẫn tính toan buông 
Ngặt vì vướng nợ thơ “con cóc” 
Như tiểu Hàn San nghiện đấm chuông. 

Thái Cuồng 

&&&

Buồn 

Chiếc bách xuôi dòng phận nổi nênh 
Lênh đênh đâu nữa cũng lênh đênh 
Nghĩ khi biển động lòng run rẩy 
Nhớ lúc thuyền nan sóng bập bềnh 
Bến cũ đò chiều bơi chểnh mảng 
Đường về mây trắng nổi mông mênh 
Chợt nhìn xa lộ xe chằng chịt 
Tiếc lúc quê nhà áo rộng thênh 

Huệ Thu 

Họa Nguyên Vận 
bài Buồn 

Con gái làng ta vốn nỏ nênh (1) 
Sớm khuya chạy chợ, gánh đong đênh (2) 
Trời chiều, đông khách, đò nghiêng ngả 
Nước ngập, hàng trôi, thúng nổi bềnh 
Gái đảm đâu lo trời chạng vạng 
Gan bền chẳng ngại nước mang mênh 
Ra tay vớt hết hàng trôi nổi 
Nặng gánh quay về, dạ thoáng thênh. 

(1) và (2) Thổ ngữ Quảng Bình 

Thái Cuồng 

***

Dơ Dáng, 
Hão Huyền 

Bầu cử năm nay, thú vị thay 
Cộng Hòa, Dân Chủ múa đều hay 
Phe kia cậy khỏe, vung gươm bén 
Phía nọ khoe hay múa gậy tầy 
“Đình đám” (1) Huê Kỳ luôn nhộn nhịp 
“Mẹ con” (2) Giao Chỉ khéo thày lay 
Buồn thay mấy kẻ theo đuôi hão 
Ăn… giải gì đâu, múa tối ngày ?… 

(1) và (2): “Đình đám người, mẹ con ta” ; tục ngữ Việt Nam ám chỉ những kẻ thấy người khác có việc vui mừng, tuy không liên quan gì tới mình mà cũng bặng nhặng múa may hão 

Thái Cuồng 
Cuối Thu, 2000 

Vẫn Hay 
(bài Họa) 

Buồn thay mà nghĩ cũng vui thay !
Dân chủ người ta thế mới hay 
Tính toán đã đành còn kẽ hở 
Tự Do hỏi có chỗ nào tầy ? 
Việc dân vốn dĩ tùy tâm lựa 
Cây cả làm sao sợ gió lay ? 
Tuy tốn của công nhiều thật đấy 
Ô tô xa lộ chạy đêm ngày. 

Huệ Thu 

***

Máy Điện Toán Gian Manh 

Huê Kỳ vốn tự thị văn minh 
Vượt cả năm châu đủ mọi ngành 
Kỹ thuật siêu cường bao kẻ ngán 
Kinh tài xuất chúng, dễ ai tranh ? 
Cớ sao “bầu bí” (1) đâm hư đốn ? 
Chẳng lẽ người ta kém tốt lành ? 
Chắc hẳn ai kia chơi chước quỉ 
Cho nên điện toán hóa gian manh!… 

(1) Tại Bang Florida, trong cuộc bầu Tổng Thống nhiệm kỳ 2001 – 2004, có nhiều nghi vấn khi số phiếu của hai ứng viên có quá ít sai biệt, và máy kiểm phiếu nhiều sai sót ! 

Thái Cuồng 
Cuối Thu 2000 

Phản Bác 
bài Máy Điện Toán Gian Manh 

Bác thật là người khá… bất minh ! 
Đã hay, hay đủ mọi nghề ngành 
Cứ như huề vốn cần im lặng 
Thì dễ làm sao có đấu tranh ? 
Tuy vụng về đây nhưng cẩn trọng 
Tưởng ghê gớm đấy vẫn yên lành 
Máy đâu có phải ông trời nhỉ ? 
Sai sót đôi khi chút mỏng manh. 

Huệ Thu 

*

Lưu Vong Mừng Đại Thọ 
(nhân vụ hai ông bà ngoại tám mươi khoe mới đậu Quốc tịch Hoa kỳ, mừng Đại Thọ, lại được hưởng “oeo phe”) 

Kìa ai dơ dáng đủ trăm chiều 
Vong gia, thất thổ vẫn hiêu hiêu (hưu) 
Xếp hàng xin giúp, lo trăm thứ 
Đợi kẻ ban ơn hạch đủ điều 
Chẳng tủi thân già ra thế ấy 
Còn mừng tuổi thọ được bao nhiêu 
Nếu còn nhớ lại câu… “đa thọ”… 
Hẳn đã không đầy vẻ tự kiêu. 

Thái Cuồng 
Cuối Thu, 2000 

Thưa Bác Thái Cuồng, nếu để câu đầu như thế này thì 
câu thứ hai chữ “gia” bị thất niêm!. Vì vậy cháu xin mạn phép 
viết lại câu đầu: “Dơ dáng làm sao đủ mọi chiều” 
rồi mới họa: 

Bài Họa 

Tuổi hạc giờ đây đã xế chiều 
Ông chê gì những vượn cùng hiêu (hưu) 
Cho vào quốc tịch là danh giá 
Được hưởng “oeo phe” cũng bọc điều 
Gối mỏi lưng đau chừng mấy nả 
Tiền khan mắt kém có là nhiêu ? 
Ông nên thể tất tình thiên hạ 
Chẳng đáng kiêu mà cũng cứ kiêu . 

Huệ Thu 

***

Mừng Thọ Bác Thái Cuồng 

Sang năm mừng Bác bảy mươi lăm 
Xin gửi lời thăm, ngại đến thăm 
Xứ lạ đã từng buồn vợi vợi 
Đường về sao cứ lạnh căm căm 
Tiếc thương tuổi trẻ thoa môi đỏ 
Tưởng nhớ người xưa gối sách nằm 
Nghĩ lại lăng xăng cùng chữ nghĩa 
Chút danh thi sĩ có ăn nhằm ! 

Huệ Thu 

Kiều Cư Cảm Tác 

Sống mãi nơi đây chắc hóa rồ 
Nửa như giam lỏng, nửa thầy tu 
Hè về luẩn quẩn trong phòng lạnh 
Đông tới loanh quanh trước của lò 
Viếng hội cao niên tình lạc lõng 
Thăm làng báo chí chuyện vu vơ 
Câu thơ, chẳng biết cùng ai đọc 
Cám cảnh Kiều cư đất tự… “ro” 

II 
Cám cảnh kiều cư đất tự… “ro” 
Nhìn dân lao động nghĩ buồn xo 
Ngày ngày cuốc đủ chừng mươi tiếng 
Tối tối cầy thêm khoảng mấy giờ 
Da trắng, da đen, da xám xịt 
Tóc vàng, tóc bạc, tóc quăn co 
Lũ người hổ lốn nai lưng cuốc 
Bảo hiểm, ngân hàng hốt tỉnh bơ… 

III 

Bảo hiểm ngân hàng hốt tỉnh bơ… 
Bất bình, ngao ngán chửi bâng quơ 
Muốn tìm thức giả trao tâm huyết 
Lại gặp phàm phu khoái bạc cờ 
Cam phận làm tôi vơ của… thí 
Cùn đời ở đậu hốt cơm thừa 
Quay về cố quận lòng chua xót 
Chẳng thấy anh hùng chuyển thế, cơ 

IV 

Chẳng thấy anh hùng chuyển thế, cơ 
Ngó phong tục Mỹ, ngỡ đang mơ 
Tiền tài, thế lực lo tranh cướp 
Đạo lý, nhân luân bị phớt lờ 
Cha mẹ già nua nên bỏ mặc 
Chó mèo hôi hám vẫn tôn thờ 
Ta như lạc lõng nơi hoang dã 
Ngắm ngọn cờ hoa luống sững sờ!!! 

Houston, cuối hè 1993 
Thái Cuồng 

Bài Họa 
Kiều Cư Cảm Tác 

Bác cho ở Mỹ thật điên rồ 
Sang được Hoa Kỳ mấy kiếp tu 
Cuộc sống mình chui trong đống rác 
Dân đen chúng đút cả vào lò 
Đứng nhìn tuổi trẻ buồn ngao ngán 
Ngồi nhặt tiền già nghĩ vẩn vơ 
Giá được như xưa ngài chắc chịu 
Bàn đèn ngả sẵn kéo ro ro 

II 

Bàn đèn ngả sẵn kéo ro ro 
Như thế thì ai đã dám so ? 
Thương nước thương nhà thương thuở ấy 
Nhớ năm nhớ tháng nhớ bây giờ 
Đi hoài mỏi gót thôi đành ngả 
Thẳng mãi đau xương lại phải co 
Dù chẳng công hầu không đế bá 
Thiếu gì sữa đặc, thiếu gì bơ ? 

III 

Thiếu gì sữa đặc, thiếu gì bơ 
Già yếu gặp gì cũng thích quơ 
Thua được coi như vài tấm kịch 
Dở hay đâu khác một bàn cờ 
Chen vai phấn đấu tin rằng thiếu 
Than cảnh bon chen nghĩ thật thừa 
Bác học đạo nho sao chẳng nhớ 
Đến câu quyền biến, nghĩa thời cơ 

IV 

Đến câu quyền biến nghĩa thời cơ 
Bác tỉnh hay là bác vẫn mơ 
Gai mắt mong ngài càng phớt tỉnh 
Trái tai xin cụ hãy phe lờ 
Sao đành năm tháng hoài ngao ngán 
Mà lại ngày đêm cứ thẫn thờ 
Hội nhập cho nhanh, đời sẽ khá 
Đứng ngoài chi vậy mỏi tay sờ ! 

Huệ Thu 

***

Cứ Tưởng … Bở ! 

Đứng xa tưởng bở, chẳng đo lường 
Tới Mỹ rồi ra mới tỏ tường 
Máy móc, nhà, xe, lo trả góp 
Bảo kê, điện, nước, “cấu” vào lương 
Trắng tay, rút lại hoàn tay trắng 
Trường hận, đành cam nuốt hận trường 
Trả nợ xong, nhà, xe đã nát 
Con người cũng ốm đến trơ xương 

Thái Cuồng 
Houston hè 1997 

Họa Bài Cứ Tưởng Bở 

Khoa học văn minh chẳng thể lường 
Cứ quay mặt lại khó tinh tường 
Không rơi nước mắt mà ngồi “xế” 
Chẳng đổ mồ hôi vẫn lãnh lương 
Nằm khểnh khó nghe câu sở đoản 
Đi xa mới rõ bước đường trường 
Cho dù đau ốm, sao đi nữa 
Hơn ở quê nhà sẽ nát xương. 

Huệ Thu 

Cám Cảnh Kiều Cư 

Nước nát, nhà tan, nghĩ xót xa 
Giận phường lái súng miệng điêu ngoa 
Kiếm ăn chạy riết, thương bầy trẻ 
Bỏ nước ngồi vêu cám cảnh già 
Việt Cộng hung tàn chưa lụn bại 
Huê Kỳ xảo quyệt vẫn thăng hoa 
Công bằng xã hội : chiêu bài bịp 
Dân chủ, nhân quyền, tởm quá…ta !!! 

Thái Cuồng 
Houston, Đông 1998 

Bài Họa 
Cám Cảnh Kiều Cư 

Ngồi rỗi làm thơ xót với xa 
Những điều bác nói thật sai ngoa 
Nếu không đóng thuế nhờ đàn trẻ 
Sao có lương hưu khỏe tuổi già !
Trà mạn thơ Đường còn hội họp 
Cà phê thuốc lá lại trăng hoa 
Cuộc đời như vậy, sao than thở 
Nước Mỹ đâu cần nợ chúng ta ? 

Huệ Thu 

Thầy (Tự Thuật) 

Thầy ngồi thầy tính chín năm rồi 
Bao cảnh thăng trầm diễn khắp nơi 
Các đấng quan to đi cải tạo 
Riêng thầy bụng nhỏ được ngồi chơi 
Ung dung “thực khổng” * nhi thành… đạt 
Túng tiếng thêm gì cũng tốt… thôi 
Tiến, đạt, quan, sư sinh phúc ** cả 
Quan tham, thầy thuốc vẫn thằng tôi . *** 

II 

Có phúc trời ban, há phải lo ? 
Thầy đây chính thống gốc làng Nho 
Gặp khi nhiễu loạn, lui tàng ẩn 
Đến buổi thanh bình, tiến tự do 
Nghiệp cũ đành trôi theo vận nước 
Nghề xưa lại phải đóng vai trò 
Đội ơn cụ Lãn, tay thầy … mát 
Đông kẻ xin thầy “bốc hốt”…cho. 

* Ăn không 
** Tên hiệu thuốc là Sinh Phúc Dược Phòng 
***“Tiến vi quan, đạt vi sư” 
Thiên chức của Nho sĩ thời xưa 

Thái Cuồng 
Sài Gòn Hè 1984 

Bài Họa 
Thầy 

Cứ buổi ra đi, cứ thế rồi 
Phiêu bồng đã trải khắp nơi nơi 
Miền Nam lúc trẻ tung hoành thử 
Nước Mỹ về già phụng dưỡng chơi 
Thắc mắc thêm nhiều làm hỏng việc 
Băn khoăn cho lắm thế mà thôi 
Chi bằng tri túc ta thường túc 
Thơ thẩn qua ngày bác với tôi . 

II 

An sinh xã hội khỏi cần lo 
Bác xuất thân từ học Đạo Nho 
Dâu bể chắc là quên gốc rễ 
Được thua chắc phải rõ nguyên do 
Hoa Đà vốn trước từng theo nghiệp 
Biển Thước từ nay thử đóng trò 
Phụ tử, phòng phong, sâm, quế phụ 
Gặp thời trời Phật giúp công cho . 

Huệ Thu 

Hải Ngoại Đón Nguyên Tiêu 

Hăm mấy năm qua trải đã nhiều 
Năm trâu ngắm họ đón Nguyên Tiêu 
“Ra dô” bặng nhặng mời mua sắm 
“Cờ lớp” ồn ào họp hát nghêu 
“Khố đỏ” “moong căng” còn diệu võ 
Quạ đen “phú lỉnh” vẫn ra chiêu 
Lưu vong, thấy lắm trò dơ dáng 
Càng thấy bao nhiêu thẹn bấy nhiêu 

Thái Cuồng 
Houston ,1997 

Bài Họa 
Hải Ngoại Đón Nguyên Tiêu 

Thăng trầm chưa mấy, khổ chưa nhiều 
Vẫn bạn, vẫn bè vẫn chửa “tiêu”! 
Lúc rảnh điểm qua trò ốc hến 
Khi buồn xem lại cảnh sò nghêu 
Lòng vui Đường Luật khua vài vận 
Thơ láo Khởi Hành nện mấy chiêu 
Gặp Tết mừng nhau nâng chén rượu 
Cuộc đời thật khoái biết bao nhiêu. 

Huệ Thu 

Hoa Kỳ Hết Khôn 

Mỹ Quốc văn minh quá cỡ rồi 
Người mang lốt thú nhẩy khơi khơi 
Hết khôn nẩy lắm trò nhăng nhít 
Dồn dại sinh bao chuyện nực cười 
Thiếu nữ nằm kềnh, ôm chó ngủ 
Mẹ dòng nhẩy cỡn ấp tiều(1) …chơi 
Tự do, phóng túng, đâm cuồng loạn 
Thị dục làm tiêu bản tính… người. 

(1) “tiều”: con khỉ 

Thái Cuồng 
Houston, Xuân 1997 

Họa Huê Kỳ Hết Khôn 

Hoa Kỳ bác hiểu thật sai rồi 
Mới vượt muôn trùng vạn dặm khơi 
Chưa thấy đời hay sao muốn chán 
Thoạt nhìn cảnh lạ đã mau cười 
Trăm đường thiên hạ đi đường lớn 
Mỗi nước người ta một cách chơi 
Bác lấy tục mình làm mẫu mực 
Coi như thiên hạ chẳng là người ? 

Huệ Thu 

***

Chó Nhảy Bàn Độc 

Trẻ tạo gây chi cuộc biển dâu ? 
Khiến bao thức giả chạnh lòng đau 
Cóc kia khệnh khạng chân lê guốc 
Khỉ nọ nghênh ngang mãi đội đầu 
Gấu ngự xe hơi ngồi chổm hổm 
Chó leo bàn độc sủa gâu gâu 
Ai coi sở thú cho ta nhắn… 
Bắt lũ sổng chuồng, nhốt lại mau !!! 

Thái Cuồng 
Hè 1975 

Bài Họa 
Chó Nhảy Bàn Độc 

Từ xưa bãi bể với nương dâu 
Cho đến bây giờ vẫn thấy đau 
Bác ghét môi son nơi dạ vũ 
Tôi thương trăng sáng chốn giang đầu 
Chất men buổi sớm vài câu láo 
Chú khuyển canh trường một tiếng gâu ! 
Bác nhớ nhập gia cần nhập cuộc 
Muốn vui thì phải tiến cho mau. 

Huệ Thu 

Chữ Nghĩa Đổi Đời 

Chữ nghĩa ngày nay đã đổi đời 
Nôm na, hổ lốn phịa khơi khơi 
“Ấn in”, “hiu nghỉ”, nghe mà ớn 
“Sinh sống”, “thương buôn”, nghĩ nực cười 
“Đồ cưới cho thuê” nêu khắp phố 
“Tốp ca” biểu diễn, sủa… trên đài 
Tự khoe: “ý đẹp, lời trong sáng”: 
“Ỉa, đái” tương vô mới… tuyệt vời (1) 

“Ngục Trung Ký Sự” của Hồ Chí Minh có 2 câu thơ : 
“Đệ nhất buồn là mất tự do 
Đến buồn đi…ỉa cũng không cho” 
Bọn Việt Cộng vẫn khoe lời thơ của Hồ Chí Minh là ý đẹp lời trong 
sáng. 

Thái Cuồng 

Bài Họa 
Chữ Nghĩa Đổi Đời 

Chữ nghĩa từ sinh giữa cuộc đời 
Đèn ai nấy rạng dễ gì khơi ? 
Nói năng nhiều lúc đừng nên giận 
Biến đổi tùy khi chớ vội cười 
Tuy rủi phải rời xa nước mẹ 
Cũng may còn được dịp nghe đài 
Không “no”, không “yes” là vui chán 
Tiếng Việt Nam nghe đủ tuyệt vời ! 

Huệ Thu 

Bỡn Bạn Già 

Văn chương chữ nghĩa vốn… bề bề 
Khí phách “yêng hào” hết chỗ chê 
Diện mạo khôi ngô, tài quảng bác 
Thân hình tráng kiện, dáng uy nghi 
Dân sinh, quốc kế đầy kinh nghiệm 
Địa lý, thiên văn đủ ngón nghề 
Đến tuổi hoàng hôn đâm… đổ đốn 
“Thần kia” ám ảnh hóa u mê. 

Sài gon Thu 1992 
TC

Bài Họa 
Bỡn Bạn Già 

Dù ông lịch sự đủ trăm bề 
Thiên hạ người ta cũng vẫn chê 
Công Trứ đã từng nương cảnh ngộ 
Nguyễn Du có lúc phải tùy nghi 
Giở pho tình sử càng thương bạn 
Đọc truyện Tân Thanh chắc ngứa nghề 
Tóc bạc lẽ nào lòng cũng bạc ? 
Tuổi bao nhiêu nữa vẫn đam mê 

Huệ Thu 

Vĩ Nhân Thời Đại 

Nực cười “Văn Xã”, lũ ong non (1) 
Bốc lộn già Hồ đại ác ôn 
Từng diếc muôn người trong đấu tố 
Lại chôn triệu trẻ khắp đường mòn (2) 
Mậu Thân đốt sạch quân anh Thọ 
An Lộc tiêu tùng lính bác “Tôn” 
“Thắng lớn”, ông “mừng” nên tắt thở (3) 
Đàn em bêu xác để… ghi ơn 

(1) Văn Hóa Xã Hội quốc tế tôn Hồ Chí Minh là vĩ nhân thời đại 
(2) Đường mòn Hồ Chí Minh 
(3) Thua lớn trong trân Mậu Thân, nhưng VC vẫn khoe “thắng lớn“ 

Thái Cuồng 
Hè 1991 

Bài Họa 

Đừng nhắc chuyện buồn, chuyện nước non 
Quan văn gì nó ? Lũ quan ôn ! 
Chữ nhân vạn thuở không hề đổi 
Bia miệng ngàn năm vẫn chẳng mòn 
Vì nước vì dân mà phản động 
Đại gian đại ác lại suy tôn 
Vĩ Nhân thời đại, thôi đừng nói ! 
Dạy chúng bao giờ chúng biết ơn. 

Huệ Thu 

***

TÂM TRẠNG LÃO HỦ 

Lão già hủ lậu bất tri thời 
Canh cánh ưu tư, dạ khó nguôi 
Cám cảnh giang sơn đầy hổi loạn 
Buồn lòng dân chúng mãi tan tơi 
Vong nô xuẩn động khoe tài thánh 
Quỉ đỏ hung tàn , tưởng sức voi 
Cố níu bạo quyền vơ vét mãi 
Muôn thằng vô sỉ vẫn theo đuôi 

II 

Bản tính xưa nay biếng … rạp mình 
Xương lưng một gióng tự sơ sinh 
Theo thời cũng muốn tìm thầy uốn 
Ngán nỗi không cam chịu “chíp” hành 
Cay đắng bao phen từng gánh chịu 
Ngọt bùi lắm lúc cũng coi khinh 
Mặc ai chê trách, cười mai mỉa ! 
Thanh bạch nhưng tâm trạng thái bình ! 

Thái Cuồng 
Houston , Đông 2000 

Huệ Thu Phụng Họa 


Ai bảo cuồng ngông chẳng thức thời 
Ngứa gan nhiều lúc khó mà nguôi 
Ba câu trào phúng buồn nghiêng ngả 
Một mảnh dư đồ rách tả tơi 
Thây họ dư mồm toàn đánh võ 
Mặc ai bã mía cứ theo voi 
Gặp nhau ta hẹn ngày quang phục 
Đừng nói làm gì chuyện vuốt đuôi . 

II 
Nếu như Bác chẳng chịu khom mình 
Thì dĩ nhiên là sự phải sinh 
Nếu chịu buông xuôi cam ủng hộ 
Chẳng cần suy nghĩ cứ thi hành 
Ngọt bùi cuộc thế đâu là trọng ? 
Cay đắng đường trần vẫn phải khinh 
Mừng Bác từng noi gương chính khí 
Mai về đất nước hưởng thanh bình . 

Huệ Thu 

****

BIẾNG 

Biếng ăn, biếng ngủ, biếng “lo vơ” 
Biếng cả “en doi”, biếng cả… sờ 
Mặc kệ ai kia chê “cả quỷnh” 
Bất cần kẻ nọ riễu tay mơ 
Buồn tình đả kiết dăm thằng ngợm 
Cao hứng ngâm chơi mấy đoạn thơ 
Xướng họa say mê, quên mệt mỏi 
Mấy ai hiểu rõ biếng hay …khờ ?… 

Thái Cuồng 

BIẾT AI KHỜ 

Đô thành hoa lệ vẫn bơ vơ 
Cái lũ đuôi voi chẳng được sờ ! 
Vào đất tạm dung nhiều chuyện lạ 
Quay về cố quốc một cơn mơ 
Lẽ nào buồn tại không tiền triệu 
Đành cũng vui vì có bạn thơ 
Chút ít mê say là lãi đó 
Ai rằng cao quý biết ai khờ ? 

Huệ Thu 

Thanh Khí Tương Tầm 

Người Nam, kẻ Bắc nối duyên thơ 
Ngàn dặm xa xôi, chẳng hẹn hò 
Xướng họa thi ca, đời cá nước 
Ứng cầu thanh khí, kiếp tằm tơ 
Luật, vần nghiêm cẩn, không gò ép 
Lời , ý thanh tao, chẳng mập mờ 
Tri kỷ qua vần thơ xướng họa 
Tinh thần phóng khoáng, dạ chân như . 

Thái Cuồng 

Vẫn Cứ Như 

Chẳng hiểu vì sao nợ mãi thơ 
Nào ai đã hẹn, có ai hò 
Bởi vì còn giấy nên in sách 
Chắc hẳn vì tằm phải nhả tơ 
Thương nổi đường xa đầu gối mỏi 
Nhớ khi nhà vắng ngọn đèn mờ 
Chợt nghe khúc hát bên hàng xóm 
Ta vẫn là ta vẫn cứ như… 

Huệ Thu 

***

Mặt Trái Xứ Cờ Hoa 

Hội nhập Cờ Hoa, xét kỹ rồi ! 
Có đâu như lũ xẩm “sờ” * voi ? 
Vô luân, bất hiếu, coi rành rẽ 
Bại tục, đồi phong, thấy rạch ròi 
Xã hội lung tung nhiều …thứ lạ 
Gia đình lộn xộn lắm trò vui 
Ngán thay trẻ nít ham dùng súng 
Bạn học, thầy, cô đã … bỏ đời !… 

* Câu kết của bài thơ do Huệ Thu họa vần bài thứ 4 trong 
Liên hoàn “Kiều Cư Cảm Tác” như sau: 
Hội nhập cho nhanh, đời sẽ khá 
Đứng ngoài chi mãi, mỏi tay “sờ”… 

Thái Cuồng 

Có Cuộc Đời 

Nhập tịch chưa ông ? – Đã nhập rồi 
Thôi thì xuống chó, lại lên voi 
Ô long đôi lúc dường không chát 
Phó mát nhiều khi cũng có dòi 
Ở đất Hoa Kỳ nhiều chuyện lạ 
Dưới trời lưu lạc lắm trò vui 
Đồng tiền sấp ngửa đều hai mặt 
Có thế cho nên có cuộc đời ! 

Huệ Thu 

***

Gửi Thi Sĩ Huệ Thu 

Quý hữu xa xôi, chẳng thấu cho 
Lão đây đại kị món “ro – ro” 
Phì phèo thuốc lá, chưa từng thử 
Nhấm nháp men cay, đã chịu thua 
Mấy tách trà thanh tẩm buổi sáng 
Vài lưng cơm, chắc dạ ban trưa 
Niềm vui chỉ có “thơ con cóc” 
Mọi món ăn chơi, vốn hững hờ 

Houston Đông 2000 
Thái Cuồng 

Biết Đâu 

Bác Thái Cuồng ơi bác hiểu cho 
Hình như thơ hợp với vần ro! 
Cũng đùa đôi chút dầu hơi kém 
Đừng nhắc làm gì chuyện được thua 
Lý Bạch rượu vào thơ lại tỉnh 
Đinh Hùng khói đậm ngủ càng trưa 
Tưởng rằng tuổi bác đều như thế 
Ai biết ăn chơi bác hững hờ ! 

Huệ Thu 

***

Đạo Người 

Người và thú vật khác chi nhau ? 
Khác ở nhân luân đứng hạng đầu ! 
Kính mẹ thờ cha, lo giữ trước 
Thương anh mến chị tiếp theo sau 
Vợ chồng phối kết, ân tình nặng 
Bè bạn giao du, tín nghĩa sâu 
Ví bỏ nhân luân cùng đạo đức… 
Loài người, giống vật khác chi đâu !!!… 

Thái Cuồng 

ĐÓ CHỨ ĐÂU 

Nay đã quen nhau đã biết nhau 
Dẫu chưa ý hợp chẳng tâm đầu 
Vào ra vốn dĩ theo nền nếp 
Ăn ở từ xưa có trước sau 
Đất nước tình kia là chất ngất 
Mẹ cha ơn ấy thật cao sâu 
Lời người hậu bối xin ghi dạ 
Đạo đức luân thường đó chứ đâu . 

Huệ Thu 

***

Tái Họa Bài Cứ Tưởng Bở 
(do Huệ Thu họa nguyên vận) 

Hận lũ lưu manh khéo lật lường 
Dồn nhau mãi mãi tới chân tường 
Con đua làm mướn cần mua “xế” 
Mình ngại ăn xin chẳng nhận lương 
Ngồi ngắm tranh đời nơi khách địa 
Lãng quên súng nổ chốn sa trường 
Đợi ngày quang phục Giang Sơn Việt 
Coi Cộng quân đền nợ máu xương . 

Thái Cuồng 

Đói Trơ Xương 

Trò đời điên đảo biết sao lường 
Phải cố truy nguyên thật tỏ tường 
Sấp mặt cầu xin vài hột vãi 
Còng lưng để nhận mấy đồng lương 
Đền đài miếu vũ chưa chung cuộc 
Mũ áo cân đai cũng hý trường 
Máu đỏ da vàng thân phận ấy 
Đồng bào lụt lội đói trơ xương 

Huệ Thu 

***

Tái Họa Hoa Kỳ Hết Khôn 
(do Huệ Thu họa nguyên vận) 

Có lẽ ta nay quẩn quá rồi 
Ngồi trên mặt đất, ngỡ ngoài khơi 
Nhìn ai “Kính” mẹ đâm ra sợ 
Thấy họ “Thờ” cha bỗng bật cười 
Mỹ quốc văn minh nhiều kiểu… nhẩy 
Huê Kỳ tiến bộ lắm “phom” * … chơi 
Nên chăng nhất nhất đều theo… Mỹ 
Nhắm mắt đưa chân, bỏ Đạo Người ? 

* form 
Thái Cuồng 

Tờ Lịch Cuối Năm 
(Sao Được Cho Ra Cái Giống Người) 

Tờ lịch cuối năm đã bóc rồi 
Nhớ khi vào biển, trốn ra khơi 
Cái vần bằng trắc vui mà khổ 
Cuộc sống bon chen khóc lẫn cười 
Tài tử góp vào cho biết mặt 
Phong lưu dấn tới thử mà chơi 
Tú Xương chợt nhớ, xưa người chúc : 
Sao được cho ra cái giống người . 

Huệ Thu 

 

***

Đố Ai … 

Thái Cuồng, nguyên bút hiệu:Vi Thiềng 
Vốn thẳng lưng hoài, khó ngả nghiêng 
Chửi bọn gian manh chuyên cúi rạp 
Gặp hồi quốc biến suýt … lăn chiêng 
Mới qua nước bạn liền lo viết 
Vốn đã quên hèn chẳng chịu kiêng 
Bút hiệu thường gần tên chính thức 
Đố ai đoán trúng được tên riêng . 

Thái Cuồng 

Biết Làm Gì 

Nếu chẳng Vi Thiềng sẽ Bất Thiềng 
Đừng nên nhìn thẳng, chẳng nhìn nghiêng 
Áo quần thuở ấy ba trò nhảm 
Hương, bái * ngày nào mấy tiếng chiêng 
Thơ phú việc này thôi cứ việc 
Lợi danh món ấy cũng nên kiêng 
Ở đời biết lắm càng thêm mệt 
Có cái chung mà có cái riêng ! 

* Đứng lên, cúi xuống , mấy tiếng hô ở Đình Làng ngày trước mỗi khi tế lễ (Tiếng Hương là do chữ Hưng là đứng dậy đọc trại ra) 

Huệ Thu 

***

Nịnh Dư Hay Tiếp Dư ? 

“Nịnh Dư” hay “Tiếp” , có hề chi ? 
Cuồng Sĩ xa xưa , sá kể gì ? 
Luận Ngữ Đại Toàn khôn kiếm được 
Thi Thư chính bổn khó tìm ghê 
Tam sao, thất bản do dâu bể 
Thập gia, đơn châu trải loạn ly 
Thánh, Trạng xưa kia còn thiếu sót 
Mình nay cố chấp mãi đâm … “quê” 

Thái Cuồng 

Chẳng Hề Chi 

Đã biết rằng là chẳng có chi 
Nịnh hay là Tiếp đã hề gì ? 
Tam sao thất bổn thôi thì kệ 
Tứ đốm, tam khoanh * thật chán ghê 
Bỏ nước vui gì câu trích cú 
Xa nhà buồn mãi chuyện chia ly 
Ông ơi ! Việc lớn sao không luận ? 
Luận chuyện trời ơi thật cũng quê ! 

* Tục ngữ 

Huệ Thu 

huethu Mời Bác Thái Cuồng Họa 


Vi Thiềng bổng lộc cũng nhiều khi * 
Có đó rồi không nghĩa lý gì ? 
Tri túc ** nhìn đời đâu đáng chán 
Thái Cuồng *** nệ sách chỉ là vì … 
Thơ xem trước án toàn mơ hão 
Rượu uống trùm chăn lại ngủ khì 
Ở nước Cờ Hoa tân tiến ấy 
Vi Thiềng bổng lộc vẫn cu ky . 

*Vi Thiềng là của đút lót , các quan được tiền người ta vi thiềng cho gọi đó là bổng lộc . Thiền là chữ Thành đọc trại đi . 
** Tri Túc : Biết đủ 
*** Thái Cuồng nghĩa là điên quá, hiểu theo nghĩa đen 

II 

Bỗng dễ vào tay bác Thái Cuồng * 
Đã Cuồng chữ nghĩa chỉ còn suông 
Vi thiềng khó thể làm nên chuyện 
Tận lực may ra sắm nổi tuồng 
Ga xép nhớ ngày nằm Phủ Lý ** 
Hồ to mơ buổi dạo Thuyền Cương *** 
Tháng Tư rã đám còn chi nữa 
Lớn nhỏ đem đi nhốt một “chuồng”! (1) 

* Bác Thái Cuồng tên thật có phải là Bỗng ? 
** Bác Thái Cuồng hình như người Phủ Lý (nay thuộc Nam Định ?) 
*** hồ Thuyền Cương ở Hà Nội 
(1) câu này Bác Thái Cuồng có nói ht viết như thế hơi “hỗn” ! – Thưa Bác cháu thấy sau 75 VC họ đem giam giữ các sĩ quan của ta vào trại gọi là cải tạo, chúng gọi là “chuồng, trại” đó mà ! Như thế mới đủ rõ nghĩa là họ đã đày đọa ta như thế nào! – Nếu đổi lại là chữ “buồng” thì không đủ mạnh nghĩa về ý của câu này và “hiền” quá đó Bác ạ ! 

Huệ Thu 

Kính Gửi Bác Thái Cuồng 

Hậu sinh xin lỗi bậc đàn anh 
Viết lách xem ra mới tập tành 
Bởi chẳng nhún nhường nên láo lếu 
Dù chưa kiêu ngạo cũng đành hanh 
Điển chương học lóm tuy đồ bỏ 
Thi phú làm ra vẫn hạng sành 
Có khách văn chương còn chiếu cố 
Nhìn ra gió động bức mành mành 

II 
Vẫn đọc lâu nay bác Thái Cuồng 
Nước người bắt chước cũng đem chuông 
Chiều chiều trước án câu thơ cũ 
Tối tối bên đèn chén rượu suông 
Họ ghét, họ rằng khôn hóa dại 
Người thương, người bảo méo thành vuông 
Luật thi như bác bây giờ hiếm 
Chúng cứ nhi nhô mấy tấn tuồng. 

III 
Bác cũng người Cuồng nước Sở ư ? 
Văn chương còn mối hận phần thư 
Chưa theo được gót người Công Trứ 
Đừng học trò ngông gã Tiếp Dư 
Đã giận câu thơ thời khứ quốc 
Và chung mối hận kẻ di cư 
Giữa trời nguyên tử, thời khoa học 
Bác vẫn đề cao Bách Thế Sư. 

Huệ Thu 

THƠ LÁO 

Thiên hạ chê bai món cổ văn 
Lão nay chỉ khoái lối thơ vần 
Phanh phui thủ đoạn phường buôn máu 
Đã kích hành vi lũ phản dân 
Ngòi bút chưa cùn, tay chửa mỏi 
Nguồn thơ chửa cạn, óc chưa cần 
Nhiều tay chê lão mần thơ … “láo” 
Láo đấy ! Nhưng mà láo …có căn ! 

Thái Cuồng 

HỎI AI YÊU NƯỚC THƯƠNG NÒI 

Vận nước xem chừng vẫn chửa thông ! 
Nhìn lui, ngó tới cánh lưu vong 
Nhân danh chính giới chuyên bàn nhảm 
Mượn thế cộng đồng chỉ nói suông 
Quốc nội liên tôn đang tử chiến 
Bạo quyền Việt Cộng chẳng khoan dung 
Mấy tay tẫu quốc đang …”bôn tẩu” 
Nằm nệm “cao su”, nếm … mật ong !  

Thái Cuồng 

THƠ LÁO 
(bài Họa) 

Cổ văn chưa học, mới kim văn 
Nói Tự Do , thơ khỏi phải vần 
Chữ chữ khơi nguồn cho mấy cõi 
Lời lời tác dụng , đến toàn dân 
Ôm hoài khuôn sáo thưa không lợi 
Giữ đúng trường quy hỏi có cần ? 
Miễn viết làm sao thiên hạ hiểu 
Thế nào là bản ? Thế nào căn ? 

Huệ Thu 

Họa Bài 
HỠI AI YÊU NƯỚC THƯƠNG NÒI 

Chửa thông mình hãy thử khai thông 
Vong quốc nhưng tâm vẫn bất vong 
Tranh đấu phải cần nhiều chước lạ 
Hô hào đâu chỉ mấy lời suông ? 
Ngẩng đầu vui đón Xuân Quang phục 
Cúi mặt buồn trên đất tạm dung 
Năm mới xin quay về nước cũ 
Lẽ nào tổ chức lại thua ong ? 

Huệ Thu 

ƯỚC MONG 

Dù ai “tẩu quốc” sống ung dung 
Nằm “cũi” cao su, nếm mật …ong 
Giới trẻ hăng say đang vận động 
Sinh viên sốt sắng đã xung phong 
Toàn cầu chính giới đang can thiệp 
Bốn bể kiều bào quyết góp công 
Nội ngoại đồng tâm lo phục quốc 
Đập tan giặc Cộng, cứu non sông 

Thái Cuồng 

Ước Mong 

Tôi tuy võ vẽ học trung dung 
“Tự đắc” (1) dù cho phận kiến ong (2) 
Đừng tưởng Dã Sài (3) cùng Bạc Hạng (4) 
Cần gì minh nguyệt với thanh phong 
Chưa đem công sức ra khai thác 
Dễ lấy thi ca vội tấn công 
Tị nạn lẽ ra cam với phận 
Bể kia bát ngát góp muôn sông 

(1) Quân tử tố kỳ vi nhi hành … 
Quân tử vô nhập nhi bất tự đắc yên : người quân tử chiếu theo địa vị mà hành sử – Quân tử không ở chỗ nào mà không thấy thoải mái cả (trung dung) 
(2) Con ong cái kiến kêu gì được oan 
(3) Dã sài : củi tầm thường 
(4) Bạc hạng : Ngõ nghèo 

Huệ Thu 

TẾT HAI MẶT 

Tết đến nơi rồi, các bạn ơi ! 
Có ai nghỉ Tết giống thằng tôi ? 
Nhìn về Giao Chỉ bao người khổ 
Ngó lại Huê Kỳ lắm cảnh vui 
Hội chợ vui Xuân , chơi mệt nghỉ 
Nhẩy đầm họp bạn , “nhót” quên thôi 
Bầu, cua, cá, cọp bao tên khoái 
“Cầy” cả năm theo mấy trận … cười 

Thái Cuồng 

Họa Bài Tết Hai Mặt 

Tờ lịch cuối cùng bạn hữu ơi ! 
Tết này ai có nhớ thương tôi ? 
Ca vài bản nhạc tuy không tẻ 
Học mấy vần thơ kể cũng vui 
Chợt thấy nắng xanh màu nắng mới ! 
Bỗng buồn mình biết lấy mình thôi 
Chỉ vui chỉ Tết khi dân chủ 
Cờ tự do bay bát ngát cười . 

Huệ Thu 

Thái Cuồng Chúc Tết Huệ Thu 

Lại Một mùa Xuân nữa tới rồi 
Chân thành chúc quí hữu đôi lời 
Huệ Thu thi sĩ tăng khang thái 
Bác sĩ nha khoa đại phát tài 
Phóng bút vui đề câu cẩm tú 
Ra tay tái tạo vẻ xinh tươi 
Xuân về sáng tác thêm phong phú 
Thi phẩm lừng danh khắp mọi nơi . 

Thái Cuồng 
Xuân Tân Tỵ 

Bài Họa 

Một năm mới đó đã qua rồi 
Đa tạ lòng nhau viết mấy lời 
Vui cùng thiên hạ ba câu chúc 
Góp với nhân gian một chữ tài 
Tổ Quốc Bắc Nam đều hỉ hả 
Gia đình trên dưới thẩy vui tươi 
Việt Nam dân tộc luôn hưng Vượng 
Hạnh phúc tràn đầy dâng mọi nơi . 

Huệ Thu 

Món Vi Thiềng 
(Giảng bài Đố Ai) 

Thông lệ muôn đời chẳng biến thiên 
Mấy ngài đảm nhiệm việc công quyền 
Tiền lương, chính phủ lo cung cấp 
Bỗng ngoại, thằng dân vẫn biếu riêng 
Quan lớn dạy : “Làm chi vẽ sự” 
Dân đen bẩm : “Có chút Vi Thiềng” 
Cho nên quan chức luôn giầu lớn 
Do đám cầu ân huệ … “Lễ” tiền 

Thái Cuồng 

Bài Họa 

Người xưa nước Kỷ lại ưu thiên (1) 
Việt Cộng nhi nhô chuyện cửa quyền 
Ông bự chỉ lo vơ lộc lớn 
Của chung khổ nỗi lại tình riêng 
Vuốt ve con đỏ là chuyên nghiệp 
Nặn bóp dân đen vốn thập thiền (2) 
Đã bổng (3) làm sao không có lộc (4) 
Thi nhân mà cũng kiếm ra tiền ! 

1 – Người nước Kỷ lo trời đổ (Kỷ nhân ưu thiên . Cho nên cụ Bùi Kỷ mới lấy tự là Ưu Thiên) 
2 – Thiền là chữ thành đọc trại ra 
3 – Tên Tiên Sinh là Bổng, 
4 – Lộc là của đút lót (Vi thiềng) 

Huệ Thu 

Cảm Nghĩ Về … Xuân 

Mấy độ mai , đào nở rộ hoa 
Có ai cảm thấy tuổi thêm già 
Đường lên thượng giới dường thu ngắn 
Nẻo xuống A Tỳ cũng bớt xa 
Các đấng tu hành mau đắc đạo 
Những tên Cộng Sản hóa ra ma 
Gian thương, lái súng,phường buôn máu. 
Sắp sửa đầu thai kiếp độc xà 

Thái Cuồng 
Houston, Xuân Tân Tỵ 

Bài Họa 

Khắp chốn nhìn đâu cũng thấy hoa 
Hỏi Xuân sao lại có Xuân già ? 
Thiên đường nẻo ấy cho dù ngắn 
Địa ngục đường kia cũng vẫn xa 
Gió bụi mà chưa là quỷ sứ 
Nhục vinh thây kệ lũ yêu ma 
Thôi về gối sách ngâm thơ cổ 
Nâng rượu đầy ly cứ “nhẩm xà”! 

Huệ Thu 

Tặng Vi Thiềng (tức Tham Phịa) 

Tham “phịa” phen này lại “đánh xoong” (1) 
Khen thay chú cháu quả tinh khôn ! 
Ba mươi năm lẻ còn chưa ngán 
Năm chục xuân dư vẫn chẳng chồn 
Xoong Nhật, xoong Tây đều “uýnh” tuốt 
Xoong Anh, xoong Mỹ cũng thầu luôn 
Dường như muốn đánh thêm xoong Đức 
Rất tiếc em không luyện “võ luồn” (2) 

(1) Biệt ngữ chỉ việc học ngoại ngữ có ý riễu cợt người học làm bồi bếp cho ngoại quốc 
(2) Chỉ hành vi nịnh nọt, luồn cúi kẻ có quyền 

Hải Pháo 

Đây là bài thơ của ông anh họ, hiệu là Hải Pháo tặng Vi Thiềng khi tôi học tiếng Anh – Saigòn hè 1977 

Huệ Thu họa 

Xưa kia nào “mẹc” lại “cô xoong”* 
Nay nói hê lô đã biết khôn 
Lo vét cho đầy làm lũ cáo 
Lủi đâu cũng lại tấm thân chồn 
Nô nô, yes yes làm ta hoảng 
Ô kể, ô kê chúng sợ luôn 
“Xoong” Pháp hay là xoong của Nhật 
Hoa Kỳ “xoong” mỡ dễ ta luồn ! 

* mer & Cochon = hai tiếng chửi thề của Pháp 

Huệ Thu 

Nhận được loạt bài thơ họa vần của cô, tôi đã đọc một cách rất kỹ càng, say mê và thích thú, trong đó có câu kết của bài : “Kiều Cư cảm Tác” là : “Đứng ngoài chi mãi mỏi tay… “sờ”, làm tôi thắc mắc, suy nghĩ mãi, và đã nẩy ra mấy bài họa lại và vài bài thơ bày tỏ tâm trạng một cách chân thành, nếu có gì sơ suất, có thể gây hiểu lầm, mong cô vui lòng tha thứ… 

Thái Cuồng 

Thưa Bác Thái Cuồng, 
Được xướng họa thơ với bác là vui rồi , lẽ nào cháu còn dám trách móc, xin bác chớ quá nhún nhường… 

Huệ Thu 

TỰ THUẬT 

Thiên hạ cho rằng lão hủ nho 
Biết đâu lão đã sắm bao trò 
Vai Tây đóng mãi nên đâm chán 
Trò Nhật chưa từng mới thử qua 
Màn kịch Huê Kỳ đang tập diễn 
Đồi phong Mỹ Quốc khó dung hòa 
Đóng hoài “kịch cục” trong thiên hạ 
Xét chẳng chi bằng đạo lý … ta 

Xuân Tân Tỵ 
Thái Cuồng 

Vận bài này hơi trúc trắc cháu xin được phép miễn họa 
HT 

*** 

Giã Từ Xướng Họa 

Nhắn người tri kỷ một đôi lời 
Xướng họa duyên thơ có thế thôi ! 
Cánh nhạn đi về chưa chút mỏi 
Nguồn thơ súc tích chẳng hề vơi 
Ngặt vì gia sự đang bề bộn 
Nên khiến nhân tâm khó thảnh thơi 
Thầm ước duyên thơ còn hứa hẹn 
Giã từ Xướng Họa chỉ lâm thời ! 

Houston, đầu Xuân Tân Tỵ (20001) 
Thái Cuồng cẩn bút 

Cũng Tạm Thời 

Thơ viết làm sao nói hết lời 
Chút duyên văn tự dễ gì thôi ? 
Áo cơm mỗi lúc càng thêm mệt 
Chữ nghĩa nhiều khi bỗng thấy vơi ! 
Đã biết không tham công với việc 
Dễ gì cứ nói thảnh cùng thơi ? 
Bao giờ thi hứng ta tìm lại 
Xướng Họa dù thưa cũng tạm thời . 

Huệ Thu 

GÁC BÚT 

Mấy chục năm qua, viết đã nhiều 
Xem chừng hiệu quả chẳng bao nhiêu 
Những tên Việt Cộng càng ăn bẩn 
Cả lũ tham quan vẫn đớp liều 
Đàn gẫy tai trâu, tay mỏi rã 
Muối quăng mặt biển, nước tiêu vèo 
Thôi thôi ! mặc quách bầy “nhân cẩu” 
Gác bút coi bay “uýnh lộn phèo “ . 

Thái Cuồng 

Huệ Thu Họa 
LỘN TÙNG PHÈO 

Thơ làm chống Cộng cũng hơi nhiều 
Viết được bao nhiêu lãi bấy nhiêu 
Đã biết Cộng nô ta phải đánh 
Chẳng xem khủng bố họ đang liều 
Đôi khi ân nghĩa câu thơ lạc 
Một thoáng trăm năm ngọn gió vèo 
Bác hãy ra tay cho chúng biết 
Cho gan cho phổi lộn tùng phèo 

Huệ Thu 


Kính Gửi Bác Thái Cuồng 

Bác cũng như tôi, cũng muốn về 
Đào Tiềm Quy Khứ vẫn còn mê 
Trí Thâm cửa Phật mà vong mạng * 
Công Trứ lên chùa vẫn hả hê ** 
Tôi đã về yên nơi Xóm Củi 
Bác còn ở đó quậy cơm khê 
Ở đi tất cả là duyên nghiệp 
Tuồng tích không qua một lũ hề 

*Vong mạng: làm ẩu làm liều không sợ chết 
** Lên chùa mà vẫn có vài dì theo sau ! 

Huệ Thu 

Bài Họa 
Gửi Bà Huệ Thu 

Nhìn đời chán ngấy đã toan về 
Xướng họa thơ từ lại quá mê 
Thi tuế không nhiều nhưng rải khắp 
Bạc tiền dẫu ít vẫn tung hê 
Bạn về Xóm Củi chưa quên nợ 
Tôi nấu Nàng Hương há đã khê ? 
Nghĩ kiếp tằm tơ thêm chán ngán 
Bỏ thương vương tội, tính răng hề (1) 

(1) Hề là tiếng Huế dùng để hỏi . Thí dụ : đi mô hề ? (đi đâu vậy) 

Thái Cuồng 

TRI TÚC 

Thi nhân vui sống cảnh thanh bần 
Tri túc cho nên đỡ nhọc nhằn 
Tiền bạc dồn đưa qua xóm chợ 
Thơ từ gom góp gửi làng văn 
Của trời dẫu bộn bầy ra đó 
Đôi cánh không dài, với được chăng ? (1) 
Muốn được ung dung, cần biết đủ 
Tham lam được mấy ? Hỡi vua Tần ? (2) 

(1) Của trời vô số bầy ra 
Nhưng đôi tay ngắn dễ mà với chăng (phong dao) 
(2) Tần Thủy Hoàng gồm thâu 6 nước thống nhất thiên hạ, nhưng ông mất giữa khi đi đốc thúc xây cất Vạn Lý Trường Thành, và cơ nghiệp nhà Tần cũng sụp đổ ngay trong đời Hồ Hợi (con của Tần Thủy Hoàng) 
Thái Cuồng 

Bài Họa 

Chẳng ham phú quí chẳng lo bần 
Con khóc, chỉ lo vợ lại nhằn 
Quanh quẩn đất trời trong Xóm Củi 
Rong chơi ngày tháng với câu văn 
Chút danh thi sĩ tôi dù tránh 
Cái lụy tài hoa bác biết chăng? 
Ngọn lửa phần thư giờ lại nổi 
Giận thay bọn ngợm chạy theo Tần ! 

Huệ Thu 

CÒN NẶNG NỢ …THƠ 

Chân chất đôi lời nhắn bạn Thơ 
Be sành chén đá đụng lu bù 
Mấy vần hóc búa chưa hề cạn 
Món nợ thơ nôm há lại “xù” ? 
Điển cố thi thư khoan đối đáp 
Phong dao tục ngữ vẫn tranh đua 
Xuân Hương thi phẩm truyền muôn thuở 
Bởi khéo pha cay, mặn, chát, chua . 

Houston Xuân Ất Dậu 
Thái Cuồng 

Bài Họa 

Bác cũng Thơ, mà tôi cũng Thơ… 
Tiền ta vốn ít lấy thơ bù 
Tiếng tăm ảo mộng thôi là bỏ 
Danh lợi phù vân cứ việc “xù” 
Đã có ra chi mà thắng lợi 
Cần gì lại cứ phải thi đua 
Lấy vui làm lãi thơ làm lãi 
Mặc cả ngọt bùi lẫn đắng chua 

Huệ Thu 

MẾN THIÊN TÀI

 

Tế nhận lời thơ mới rõ người
Hiển nhiên nữ sĩ có thiên tài
Đá sành đụng tới vang toàn cõi
Ánh lửa bùng lên rực khắp trời
Thư tín đi về tăng ý đẹp
Thơ từ xướng họa nẩy niềm vui
Tuy chưa diện kiến, tâm hằng tưởng
Trí não thi nương quả sáng ngời

 

Houston Xuân 2005
Thái Cuồng

 

Bài Họa :
KÍNH CHÚC TIÊN SINH

 

Đã sinh làm cái kiếp con người
Nặng chữ Tâm mà nhẹ chữ Tài
Hoa cỏ trời ban đầy mặt đất
Bạn bè ta trải khắp chân trời
Thanh nhàn năm tháng âu là phúc
Mạnh khỏe đêm ngày đủ thấy vui
Xin chúc tiên sinh thừa ngạo khí
Thi tinh (*) lại cứ sáng ngời ngời

 

(*) Thi tinh:(tinh tú) ngôi sao về môn thơ văn 

 

Huệ Thu

 

MONG ƯỚC
(gửi nữ sĩ huệ Thu)

 

Cùng ai xướng họa đã hơi nhiều
Mến phục thiên tài đứng hạng siêu
Chắc hẳn tâm hồn luôn phóng khoáng
Dường như phong thái vốn phiêu diêu
Phải chăng ngọc diện hằng hoan lạc ?
Có lẽ băng tâm ít hoạn ưu 
Cơ hội tương phùng mong có để …
Họa vần ứng khẩu một vài chiêu

 

TB:

 

Bấy lâu mến phục tài thi phú
Rất tiếc dung nhan chỉ đoán chừng
Ví được quan hình do tác phẩm
Chân thành cảm tạ khách văn chương ?

 

Thái Cuồng

 

Huệ Thu Kính Họa

 

Biết nhau chẳng lọ ít hay nhiều
Như bác văn thơ quả loại siêu
Con cháu thời thường còn phúc lộc
Bạn bè thỉnh thoảng lại tiêu diêu
Vì thương nên cụ càng thêm nhớ
Chẳng oán nên mình cũng chẳng ưu
Năm mới, mới về nghe bác xướng
Cũng xin kính tiếp một vài chiêu

TB

 

Từ trước đến nay chưa gặp mặt
Tình thân nghe đã quá chừng chừng
Nay còn tấm ảnh giờ xin gửi
Sách vở ghi thêm được mấy chương

Kính thân
Huệ Thu

Đã xem 704 lần.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*