Hà Thượng Nhân Với thái độ kẻ Minh Triết Ở Phương Đông

Quyển Thi Ca Việt Nam Hiện Đại ITCVNHĐ) được nhà sách khai trí in 12- 6-67 đến nay 2006 đã gần 40 năm. …. Tất nhiên trong khi soạn nó ít ra thâu tóm tài liệu cũng một vài năm trước đó nữa. Có nghĩa đối với tôi năm nay 67 tuổi, sách này được soạn vào độ trên ba mươi giữa lúc chiến tranh Nam Bắc chỉ có tài liệu miền Nam thời đại của mình, bạn bè của mình thì đủ. Còn các nhà thơ thời tiền chiến hay xa hơn nữa của thời Phan Khôi , Tản Đà làm thơ hoàn toàn đều thiếu thốn.

   Vì Mê thơ mà tôi soạn TCVNHĐ (198- 1968) chứ tôi không có cái thiên chức của nhà phê bình văn hoc. Công việc làm thì rất vội vã, cũng vì sự bất cản và vội vã đó, tôi đã bỏ quên rất nhiều tài danh, tiền bối hay đang là minh chủ, chưởng môn như người thân đã gọi Hà Chưởng Môn. Qua bốn mươi năm trên trường văn trận bút để mưu sinh, khi nói đến thơ, tôi rất ân hận và tự hỏi tại sao ngày trước mình lại quên mất Hà Thượng Nhân, Cao Tiêu hay Nhất Tuấn… Với cái phong thái của ông rất xứng đáng là người anh của nền thơ Việt thời tiền chiến. Bản lĩnh đó tài năng đó trước đây đối với tôi, ông trên cả cụ Lam Giang nhưng thời đại nhà Ngô về sau – Hà Thượng Nhân biểu lộ trên mặt lãnh đạo chính trị nhiều hơn là sinh hoạt văn nghệ cho đến ngày nay, tôi vẫn hối hận tại sai lại ngợi ca vì thơ họ hay hơn sao? những người như Tố Hữu, Chế Lan Viên, đã dẫm đạp lên tự do, văn hóa, làm tay sai cho học thuyết phi nhân Mác Lê , góp công  vào việc đàn áp tự do của dân tộc.

   Những người chiến đấu chống cái xấu xa áp bức của xã hội cả như cụ Thượng Sĩ tôi cũng ít biết chỉ có sau này đọc một số bài phê bình của cụ, còn Hà Thượng Nhân, tôi gặp gỡ và hầu như có duyên gần được ông rất nhiều từ lúc tôi viết các bài ngắn ở đài phát thanh Sài Gòn trong chương trình khoa học gì đó của cụ Lam Giang Nguyễn Quang Trứ, tôi rất gần với Hà Thượng Nhân ở các giải văn chương toàn quốc mà ông làm giám khảo. Điều may mắn cho tôi viết được bài này để nhắc về Hà Thượng Nhân, tôi phải cảm ơn anh Dzạ Chi cho tôi quyển Lưu Dân Thi Thoại do Song Nhị và Diên Nghị biên soạn rất công phu đầy đủ về ông.

   Nếu không có Lưu Dân Thi Thoại thì như đời sống đơn độc trong cảnh nước mất nhà tan tôi hoàn toàn không có một tư liệu nào, sách cũ hay sách mới để nhớ lại và để viết về ông vì kính trọng của mình với người anh Cả văn chương từ lâu. Tôi viết về Hà Thượng Nhân để mở đầu cho loạt bài bổ khuyết vào quyển Thi Ca Việt Nam Hiện Đại – trước đây.

   Thơ Việt thời chiến vừa qua có hai loại: một loại biểu lộ cái hùng khí trong cuộc chiến bảo vệ tự do và đạo nghĩa làm người. Loại này có từ Á Nam Trần Tuấn Khải, Ưng Bình Thúc Dạ Thị, Tản Đà, Hà Thượng Nhân, Phan Khôi, Thanh Hữu, Truy Phong, Hồ Đình Phương, Mộc Đình Nhân, Nguyễn Hoàng Quân, Hồ Thấu… Còn một loại của các nhà thơ thành danh sau 1954(63- 75)và ngày nay có Đồng Tân,Phạm Giật Đức, Minh Đức Hoài Trinh, Quách Thoại, Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Viên Linh, Trần Dạ Từ, Thanh Tâm Tuyền, Tuyết Linh, Phan Minh Hồng, Hải Phương, Hà Thúc Sinh, Nguyên Sa, Trần Thúc Vũ, Ngô Xuân Hậu, Du Tử Lê, Cao Tiêu, Lê Miinh Ngọc, Thích Nhất Hạnh, Mai Trung Tỉnh, Vương Đức Lệ, Trần Hoài Thư, Bùi Ngọc Tuấn, Phạm Tường, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh… Các nữ sĩ về thơ có : Nhã Ca, Tuệ Nga, Tuệ Mai, Huệ Thu, Vi Khuê… một người trong buổi giao thời mà tài năng đức độ là Mặc Thu. Một số thi gia dịch thơ Đường Tống như Trần Lam Giang, Trung Thầnh Văm, Phạm Quốc Bảo, Nhượng Tống và Tân Hiến là hai nhân cách đạc biệt mà tôi xuýt quên. Còn số thi sĩ trào phúng làm Thơ Đen như Tú Kếu , Trạng Đớp, Tú Be, Nghiêu Đề (có biệt danh riêng tôi quên mất) số mới còn trẻ xuất hiện ở hải ngoại tôi chưa co tài liệu – một số bạn ở xa như Hồ Trường An, Mai Vi Phúc và rất nhiều nhà thơ tôi chưa nhớ hết được… Văn học vì lý do nào đó, đã quên mất nhiều thi tài lớn và đôi khi lịch sữ cuốn qua và mất dạng luôn… Sau này tôi có dịp đọc thêm các nhà thơ rải rác đó đây và không khỏi ít nhiều tiếc cho họ xuất hiện khá chậm hay không hợp thoi như một Nguyễn Khôi, Hoàng Hạc, Phong Sơn, Lâm Vị Thủy, hoặc một số lớn ở hải ngoại. Nguyễn Khắc Nhân, Nguyễn Vũ Đan , Nguyễn Thùy, Bùi Ngọc Tuấn, Phan Bá Thụy Dương mà… ở quê nhà không có được sách xuất bản hay thơ in trên các tạp chí văn học hải ngoại, để đọc về các nhà thơ nhà văn này thi ca hải ngoại hiện vô cùng phong phú trong các tác phẩm và tác giả ở khắp nơi trên thế giới, ở các nước nào có người Việt tha hương sinh sống hoặc số người trẻ sinh ra trên xứ người ở Mỹ, ở Úc, Thụy Điển, Pháp… Hiện nay may mắn có được một Ngọc Hoài Phương, Mai Vi Phúc đang thực hiện tạp chí và một nhà xuất bản đặc biệt về thơ ở hải ngoại, Đức và Mỹ. Mai Vi Phúc đang cùng Viên Linh xuất bản từng danh tác về thơ của một số thi sĩ nổi tiếng của Việt Nam trong thời hiện đại. Riêng anh Song Nhị và Diên Nghị làm được rất nhiều việc cho thi ca hải ngoại. Chúng ta cũng không thể quên được một số thi sĩ lừng lẫy tiếng tăm mà ngày nay hầu như mai danh ẩn tích như Hoài Khanh. Tạ Ký (đã mất) , Đồng Tân, Nguyễn Nghiệp Nhượng và nhà thơ Trụ Vũ Phong Sơn chuyển sang nghề viết thư pháp.

   Sự xuất hiện các tác giả trong nước và hải ngoại cũng nhắc lại cho người ta nhớ tới nhiều người khác vẫn còn yên lặng, mặc dầu họ vẫn có sáng tác… có nhiều tác phẩm lớn đâu đó chưa chịu lộ diện.

   Hà Thượng Nhân về sau đăng thơ trên các tạp chí văn học như Khởi Hành của Viên Linh, tạp chí Nguồn của Song Nhị- Diên Nghị… ông không còn là một tác giả ẩn danh nữa. Sự hoạt động cũa Hà Thượng Nhân xưa cũng như ngày nay ở nước ngoài vẫn vững vàng phong cách của một bậc chưởng môn… một người như anh thuở nào. Ngày trước ông giữ vai trò trọng yếu như giám đốc đài phát thanh quốc gia và làm giám khảo các kỳ thi văn học nghệ thuật, ở hải ngoại ông vẫn cùng một số nhà văn tên tuổi lớn , hoạt động rộng trong công cuộcpha3n công ý thức hệ CS, cũng với sự góp mặt ở các giải văn chương chiến đâu không ngừng nghĩ với tiến sĩ NBL. Riêng về về tâm hồn Hà Thượng Nhân, trước hay sau đều được người cùng hội cùng thuyền tôn kính. Đối với chúng ta, Hà thượng Nhân là một nhân vật lớn trong cuộc đời hoạt động rất có ý nghĩa cao cả. Một con người, một sự nghiệp thật quang minh chính đại của kẻ sĩ đối với thời đại này đáng khâm phục nhất. Tôi nghĩ kẻ nào lên tiếng xúc phạm ông, kẻ ấy thật rồ dại và sai lầm lớn vậy.

   Người đọc thấy qua các vần thơ sau này ở hải ngoại, quan điểm nhìn sự vật mới, cái tình gởi gấm tha thiết đến uê hương đất nước của Hà Thượng Nhân khiến người đọc đến dù ở tại quê hương cũng thấy não lòng và thêm quí trọng ông.

Trích thơ Hà Thượng Nhân

Một tay thiện nghệ về thơ Tứ Tuyệt, thơ Hà Thượng Nhân điểm vài nét cũng thấy đời người, đời thơ, lịch sử và mộng ảo kết nhau thành mỗi nguồn thi tứ kỳ diệu mông lung, nhất là nỗi u hận nhớ nhung về cội nguồn, quê hương đất Việt đã hầu như một cõi mộng tưởng xa vời.

Lệ Trăng

San sát nhà cao mấy chục tầng
Ngước nhìn lòng bỗng thấy phân vân
Thèm nghe một tiếng chuông chùa đổ
Trải chiếu mời nhau mấy ngụm trăng

Thu Liễu

Ôi liễu mùa Thu nghe rất lạ
Nghe như có tiếng gọi non sông
Mai về ta thử ra Hà Nội
Nhìn nước Hồ Gươm cũng ấm lòng

   Vũ trụ vạn vật đồng một thể nhưng đôi khi tâm hồn nhà thơ thấy có một điều gì đó không thể đồng điệu được với mình. Cái tâm ý của nhà thơ chợt nổi lên vì một bi kịch lịch sử mà quê hương đất Việt phải gánh chịu như hầu hết tâmmm sự của người lưu vong ở hải ngoại. Có lẽ “Nhìn Trăng” là một kiệt tác thuộc loại bi kịch này của Hà Thượng Nhân.

   Mời quí bạn thương thơ quí thơ cũng nhu quí đến một tinh thần kẻ sĩ Đông Phương xưa nay cùng đọc bài thơ này

Nhìn Trăng

Người ta lên mặt trăng
Mặt trăng gần quá nhỉ?
Anh muốn về Sài Gòn
Sài Gòn xa hơn trăng
Trăng đêm đêm vẫn thấy
Lòng anh em thấu chăng?
Thấm trên từng trang giấy
Trong cuộc cờ họ chơi
Mình là con tốt thí!
Ước vọng cả một đời
Chưa được làm thi sĩ!
Trăng nhìn anh lặng lẽ
Anh nhìn trăng cảm thông
vẳng xa vài tiếng dế
Trời đất càng mênh mông

   Chúng ta tìm đến một bài lục bát của Hà Thượng Nhân, không phải chỉ là một người ở Hà Thượng mà là một con người trượng phu đầy nghĩa khí. Một con người đáng là tiêu biểu của tinh thần vững vàng, phong độ trong mọi biến đổi mọi trầm luân, mọi nghịch cảnh, mọi thăng trầm của lịch sử. Vẫn còn nguyên khí thế hào hùng đấu tranh với cái tội ác xấu xa đen tối của lịc sử, một lịch sử phản bội lại chủ quyền dân tộc tự do như ngày nay

Say

Viết gì đây? Nói gì đây?
Ồ Xuân rượu có làm say chúng mình?
Đỏ hoe bóng điện đô thành
Nhắc làm chi bãi dâu xanh đường mỏn
Sắt son, thôi kệ sắt son
Chưa vui gọi cả Sài Gòn cùng vui
Ở đâu rộn rã tiếng cười
Ở đâu tìm lại con người ngày xưa?
Nhiều đêm trở gối nghe mưa
Dẫu chưa rượu đắng vẫn thừa lòng đau
Áo cơm lầm lỡ mãi nhau
Văn chương chung một mối sầu cổ kim
Bên ta bóng vẫn lặng im
Khó trong bọt rượu đánh chìm nhớ thương

   Hà Thượng Nhân làm đủ loại thơ : lục Bát, 5 chữ, 4 chữ, thật phong phú từ và ý với một tâm hồn rộng rãi, cao xa. Tuy nhiên người ta phải đọc một vài đặc thù về thơ Việt là loại Lục bát và song thất lục bát của ông mới chính thống là tâm huyết của ông trong mọi sự việc từng trải với quan niệm nhân sinh trước cuộc đời này. Tiếng nói lời thơ là một chân tình của một người anhh cả đầy khoan dung , rộng lượng trước sự đời gần như một hiền triết đông phương. Ta hãy đọc và chiêm nghiệm cùng với Hà Thượng Nhân về một cõi tồn thể vĩnh hằng của tư duy con người chỉ có thơ…

Không Đề

Thơ lúc trẻ chán chường bi phẫn,
Tuổi trẻ ta cùng quẫn vậy sao ?
Đời dù là giấc chiêm bao,
Trăm năm lại có lẽ nào xem khinh ?
Nay tóc bạc thình lình ngoảnh lại,
Nhớ những năm trẻ dại ngông cuồng.
Sống chưa thực, dám buông tuồng,
Chẳng qua mấy chén rượu suông canh tàn,
Nhục đất nước ruột gan lửa đốt,
Nghĩ đến người khí cốt trượng phu.
Những mong liều sức đuổi thù,
Râu mày thẹn với cơ đồ tổ tiên.
Rồi đất nước triền miên súng đạn,
Bạn bè thêm dày dạn phong trần.
Riêng mình dừng bước phân vân.
Ở đâu cách mạng ? Ðâu cần chúng ta !
Nói nhân nghĩa chẳng qua lừa bịp,
Nói hy sinh có dịp giàu to.
Chết vì một chữ tự do,
Là thôi ! Lỡ cả chuyến đò hoa niên.
Ta chẳng phải người hiền thuở trước,
Giữa ban ngày đốt đuốc tìm ai.
Chẳng mong bước tới thiên thai,
Chỉ mong gặp được một vài tri âm.
Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng,
Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu tao.
Cuộc đời thế chẳng đẹp sao ?
Lựa là cứ phải anh hào thần tiên ?
Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,
Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.
Người đừng hỏi cũng đừng thắc mắc,
Chuyện thị phi nào chắc đúng sai.
Trời ban cho một chữ tài,
Không dùng đem bán cho ai bây giờ ?
Thì ta lại làm thơ vì bạn,
Kẻ đồng tâm chán vạn gần xa.
Nếu người chịu khó đọc ta,
Trăm muôn ngàn chữ chỉ là Men Thu .

Hà Thượng Nhân

   Cả một đời thơ dấn bước tìm ra một lẽ sống ở đời cho hợp cái tự nhiên của đạo lý làm người. Có lẽ chúng ta đi những bước dung dị tột cùng với một thái độ ung dung tự tại của Hà Thượng Nhân là một thái độ minh triết nhất vậy.

Sa Giang Trần Tuấn Kiệt

Đến Quán Hòa Mã Thăm Lê Minh Ngọc 
Nhớ Đến thi Sĩ Cao Tiêu Và Hà Thượng Nhân

Lê Minh Ngọc nay đã già
Bước đi lụm khụm măt lòa lời to
Cười khinh mấy chú tam vô
Thăm anh ta chợt nhớ ra mấy người
Thuở xưa uống rượu say vùi
Nằm trong doanh trại một thời Cao Tiêu
Hà Thượng Nhân- Nhớ làm sao
Nhớ người anh cả thương nhau khôn cùng
Bây giờ tay yếu chân run
Vết nhăn lịch sữ da phồng cháy khô
Chúng ta vẫn thấy tự hào
Tự do pháp trị thời nào đã hơn
Thắng thua cũng đến mộ phần
Trước sau rồi cũng đến lần các ngươi
Thanh danh để lại với đời
Mới là tuấn kiệt ai người Thượng Nhân

Trần Tuấn Kiệt 

Đã xem 308 lần.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*